CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP 1.Khái quát về lợi nhuận trong doanh nghiệp 1.1 Các quan điểm về lợi nhuận Những quan điểm về lợi nhuận đã được hình thành từ xa xưa, ngay từ khi chủ nghĩa Tư bản bắt đầu xuất hiện với việc ra đời của học thuyết Trọng Thương các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều quan điểm về lợi nhuận. Các nhà kinh tế học theo trường phái này cho rằng: “Lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông trao đổi mua bán sinh ra, nó là kết quả của việc mua ít bán nhiều, mua rẻ bán đắt. Không một người nào làm ra được lợi nhuận mà không làm hại kẻ khác. Dân tộc này làm giàu bằng cách hi sinh dân tộc khác.
Trong trao đổi phải có bên thua để bên kia được.” Trong thời kỳ kinh tế học cổ điển nhà kinh tế học Wiliam Petty tuy không đưa ra khái niệm rõ ràng về lợi nhuận nhưng ông cũng đưa ra những quan điểm của mình về hai hình thái của giá trị thặng dư là địa tô và lợi tức có thể coi là những định nghĩa cơ bản về lợi nhuận trong thời điểm đó:“ Địa tô là khoản chênh lệch giữa thu nhập bán hàng và chi phí sản xuất. Địa tô là một phần lợi nhuận dựa vào độ phì nhiêu của đất ở vị trí canh tác. Lợi tức là số tiền thuê ruộng đất phải trả, mức lợi tức phụ thuộc vào mức địa tô.” Theo trường phái Trọng nông, nhà kinh tế học Adam Smith đã cho rằng lợi nhuận có nguồn gốc từ lao động không được trả công của công nhân, là kết quả của sự bóc lột sức lao động của công nhân. Tuy nhiên Adam Smith lại đưa ra những quan điểm không chính xác về lợi nhuận khi ông cho rằng lợi nhuận được tạo ra trong quá trình lưu thông hàng hóa.
Đến thời kỳ cách mạng công nghệp David Ricardo đã viết trong cuốn Những nguyên lý của kinh tế chính trị học trình bày một số quan điểm về lợi nhuận. Ông cho rằng: “Giá trị mới do công nhân sáng tạo ra bao gồm tiền lương và lợi nhuận. Lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lương mà nhà Tư bản trả cho công nhân”. Đây là những quan điểm dựa trên sự kế thừa và phát triển những tư tưởng của Adam Smith.
4 Tuy nhiên phải đến khi chủ nghĩa C.Mác ra đời mới có những quan điểm chính xác về lợi nhuận qua những lý luận về giá trị thặng dư.Mác cho rằng để có thể tạo ra hàng hóa nhà Tư bản cần bỏ ra rất nhiều chi phí : chi phí mua tư liệu sản xuất (c) và chi phí thuê lao động (v). Từ đó phạm trù chi phí sản xuất được hình thành trong đó chi phí để trả cho giá cả của sức lao động được gọi là tiền công; còn phần giá trị thặng dư (giá trị tăng thêm) của hàng hóa được mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận.Mác nêu ra định nghĩa lợi nhuận: “Giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận”.Trong đó ông đưa ra hai quan điểm về lợi nhuận khác đối với tư bản thương nghiệp và tư bản cho vay: + Đối với tư bản thương nghiệp: Lợi nhuận thương nghiệp do chênh lệch giữa giá bán ra và giá mua hàng hoá của tư bản thương nghiệp được tạo ra từ việc mua rẻ bán đắt. Lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất do nhà tư bản công nghiệp “nhường” cho nhà tư bản thương nghiệp. + Đối với tư bản cho vay : Lợi nhuận là số tiền lợi tức mà người chủ nhận được nhận được khi số tiền nhàn dỗi của tư bản tiền tệ được tách ra khỏi tư bản công nghiệp để người chủ đó nhường cho một người khác sử dụng trong một thời gian nhất định.
Trên cơ sở tiếp thu và phát triển các học thuyết kinh tế cổ điển cùng với việc vận dụng vào điều kiện xã hội thực tế, các định nghĩa về lợi nhuận hiện nay thường được gắn với doanh nghiệp. Lợi nhuận là kết quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp được tính trong một thời kỳ nhất định, là chênh lệch giữa các khoản doanh thu mà doanh nghiệp nhận được và tất cả những chi phí để doanh nghiệp tạo ra các khoản doanh thu đó bao gồm cả chi phí cơ hội của doanh nghiệp. Trong cuốn giáo trình “Tài chính doanh nghiệp” - Học Viện Ngân Hàng chủ biên là TS. Lê Thị Xuân đã đưa ra khái niệm về lợi nhuận như sau: “Lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu (thu nhập khác) và chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được doanh thu (thu nhập khác) đó từ các hoạt động của doanh nghiệp mang lại.2 Nguồn gốc của lợi nhuận 5 Lợi nhuận là sự phần tài sản mà doanh nghiệp nhận thêm được sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan.
Sự tác động của môi trường kinh tế, xã hội, doanh nghiệp, con người,…. có thể làm phát sinh lợi nhuận. Trong đó có 3 nguồn gốc chủ yếu sau đây tạo ra lợi nhuận: Thứ nhất là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: trong thị trường cạnh tranh không hoàn này các doanh nghiệp mới rất khó có thể xâm nhập thị trường điều đó đã vô tình tạo lợi thế cho các doanh nghiệp cũ. Nhiều doanh nghiệp do nắm giữ một nguồn tư liệu sản xuất nào đó như : công thức, công nghệ tiên tiến, thương hiệu, giấy phép, bằng phát minh sáng chế,… nên có lợi thế cạnh tranh rất lớn.
Các doanh nghiệp này thường chỉ phải trả những khoản chi phí thấp hơn nhưng lại mang về nguồn thu lớn hơn so với các doanh nghiệp khác trên thị trường. Từ đó lợi nhuận của doanh nghiệp được tạo ra nhờ việc sở hữu các tư liệu độc quyền đó được gọi là lợi nhuận độc quyền. Thứ hai lợi nhuận tạo ra từ rủi ro. Rủi ro là những gì diễn ra trong tương lai nằm ngoài tính toán của con người.
Rủi ro luôn đi cùng với sự mạo hiểm, rủi ro càng cao thì lợi nhuận có thể nhận được càng lớn. Rủi ro có thể đưa ra cho doanh nghiệp nhiều thách thức, khó khăn nhưng cũng mang lại nhiều cơ hội, lợi ích nếu doanh nghiệp biết nắm bắt. Trên thực tế có những rủi ro mà doanh nghiệp có thể dự tính được nhưng nhiều loại rủi ro doanh nghiệp không thể dự tính. Nó có thể ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, gây tổn thất, mất mát nặng hơn là ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp.
Tuy nhiên các khoản đầu tư có rủi ro cao trên thị trường thường mang đến lợi nhuận lớn hơn so với các khoản đầu tư an toàn. Chính vì vậy trong nhiều trường hợp doanh nghiệp cần phải chấp nhận rủi ro để tăng lợi nhuận. Lợi nhuận có từ rủi ro là số tiền doanh nghiệp nhận được vì sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm, chấp nhận đánh cược. Đây là nguồn lợi nhuận ngoài dự tính của doanh nghiệp do doanh nghiệp không thể đánh giá chính xác được rủi ro mà chỉ có thể chấp nhận rủi ro và hạn chế rủi ro ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp.
Thứ ba là đổi mới, sáng tạo: đổi mới và sáng tạo là tiền đề cho sự tăng trưởng. Đổi mới công nghệ, đổi mới quy trình sản xuất, đổi mới sản phẩm về hình thức mẫu mã, 6 đổi mới tư duy quản lý,… Trong thời đại công nghệ 4.0 và nền kinh tế toàn cầu hóa thúc đẩy doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới, sáng tạo để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp đối thủ. Những phát minh sáng tạo tích cực như việc tìm ra phương pháp mới, công nghệ mới hiện đại có thể giảm chi phí và mang lại nguồn lợi nhuận rất lớn cho doanh nghiệp. Không chỉ vậy những cải tiến về sản phẩm , dịch vụ, công nghệ có thể mang đến những trải nghiệm mới cho khách hàng từ đó tăng doanh thu của doanh nghiệp là nguồn gốc để tăng lợi nhuận.
Nhà kinh tế học Joseph Schumpeter - giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Havard , cho rằng “sáng tạo đổi mới là nguồn duy nhất tạo ra lợi nhuận”. Lợi nhuận thu về là số tiền trả cho những nỗ lực, cố gắng, sáng tạo, đổi mới của doanh nghiệp.3 Phân loại lợi nhuận trong doanh nghiệp Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động rất đa dạng nhiều ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Vì vậy lợi nhuận của các doanh nghiệp cũng xuất phát từ rất nhiều hoạt động kinh doanh ngoài lợi nhuận thu được từ việc cung cấp hàng hóa dịch vụ chính còn có lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh phụ, lợi nhuận từ đầu tư,… Do đó hầu hết các doanh nghiệp hiện nay phân chia lợi nhuận thành hai loại: +Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh + Lợi nhuận hoạt động khác (lợi nhuận khác) 1.1 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh - Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là số tiền chênh lệch từ doanh thu hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp và các chi phí để tạo ra doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ như chi phí bán hàng, giá vốn hàng bán, chi phí quản lý doanh nghiệp có liên quan và các chi phí khác gọi chung là chi phí của hoạt động kinh doanh. - Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh được tạo ra từ việc tiêu thụ các hàng hóa dịch vụ chính mà doanh nghiệp cung cấp, từ các hoạt động tài chính và kinh doanh vốn của doanh nghiệp.
Đây là phần lợi nhuận chủ yếu của doanh nghiệp, thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng lợi nhuận của toàn doanh nghiệp. Tỷ trọng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của 7 doanh nghiệp càng cao đặc biệt là lợi nhuận từ bán hàng và cung cấp dịch vụ càng cao thể hiện doanh nghiệp đang hoạt động đúng lĩnh vực và các hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp đang mang lại hiệu quả tốt. Bên cạnh đó lợi nhuận từ hoạt động tài chính và kinh doanh vốn của doanh nghiệp cũng có vai trò khá quan trọng nhất là trong giai đoạn hiện nay các doanh nghiệp luôn muốn tối ưu hóa nguồn vốn. - Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là nguồn lực chính của doanh nghiệp là cơ sở để doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng, quay vòng vốn kinh doanh hình thành.
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh còn là cơ sở để doanh nghiệp thành lập các quỹ như quỹ khen thưởng, phúc lợi, khoa học công nghệ,… ảnh hưởng đến hoạt động và sự tồn tại của doanh nghiệp.