PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của Đề tài Luận án Là quốc gia ven biển, có chiều dài bờ biển khoảng 3.260 km, với trên 1 triệu km2 vùng biển đặc quyền kinh tế, có vị trí địa lý thuận lợi, được xác định là cửa ngõ chính thông ra biển của các nước trên bán đảo Đông Dương và khu vực kinh tế Tây Nam Trung Quốc, Việt Nam có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế biển nói chung, kinh tế hàng hải nói riêng. Trong đó, vận tải đường biển đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển KT-XH nhờ ưu thế về năng lực vận chuyển lớn, vận chuyển hàng hóa đa dạng, giá cước vận chuyển thấp, đặc biệt là vận tải hàng hóa quốc tế [13, 29]. Tuy nhiên, thị phần vận tải hàng hóa XNK bằng tàu biển của Việt Nam chưa cao, mới chỉ đạt khoảng 10% [16], phần còn lại do các hãng tàu nước ngoài đảm nhiệm.
Với vận tải nội địa, vận tải biển chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế so với các phương thức vận tải khác như: thị phần đảm nhận của các phương thức vận tải chưa hợp lý, xu hướng “đường bộ hóa” ngày càng rõ nét, thị phần đảm nhận đối với vận chuyển hành khách bằng đường bộ cao, chiếm 95,75%, đường biển 0,01%, đường sắt 1,14%, đường thủy nội địa 0,19%, hàng không 1,12%; với vận tải hàng hóa, bằng đường bộ chiếm 77,20%, đường sắt 0,42%, đường thủy nội địa 17,13%, đường biển 5,22%, đường hàng không 0,02% [7, 8, 80]. Tiềm năng, lợi thế của ngành Hàng hải là rấ t lớn, sự phát triển của ngành Hàng hải sẽ có tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, nhất là các ngành, các lĩnh vực liên quan đến kinh tế biển, kinh tế thương mại, du lịch; đồng thời góp phần bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia cũng như bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Vì vậy, cần phải nâng cao hiê ̣u lực, hiệu quả QLNN chuyên ngành, nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế hàng hải và kinh tế biển nói chung theo Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 của Ban Chấp 1 hành Trung ương Đảng khoá X [2] và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI [49]. Do đó, việc nghiên cứu Đề tài luận án “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước chuyên ngành hàng hải đến năm 2025, định hướng đến năm 2035” là cần thiết nhằm đổi mới và nâng cao năng lực QLNN chuyên ngành, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời tạo bước đột phá về KCHT giao thông hàng hải, phát huy vai trò là đầu mối kết nối với các ngành giao thông khác, hiện thực hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng về định hướng chiến lược biển Việt Nam là “nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn” [2].
Để có được các giải pháp thiết thực và hiệu quả, NCS đã tìm hiểu cơ sở lý luận, thực tiễn công tác QLNN chuyên ngành hàng hải, kinh nghiệm phát triển ngành Hàng hải tại một số quốc gia, xu hướng quản lý theo hướng tiếp cận thành quả công nghệ của cách mạng công nghiệp 4. Tiếp theo, NCS đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng công tác QLNN chuyên ngành hàng hải, những ưu điểm và tồn tại. Trên cơ sở đó, nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp gắn với từng nhóm lĩnh vực cụ thể. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài Luận án Các giáo trình và sách chuyên khảo: Học viện Hành chính Quốc gia (2000), Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước, Tập 2 - Quản lý Hành chính nhà nước [58], Nhà xuất bản Giáo dục giới thiệu lý luận chung về quản lý hành chính nhà nước, các lý thuyết và mô 2 hình hành chính nhà nước, nền hành chính nhà nước, chức năng, phương pháp hành chính nhà nước.
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Giáo trình “Đại cương về quản lý nhà nước” [83] của tác giả Nguyễn Thị Kim Uyên (2011). Giáo trình “Ứng dụng các phương pháp toán trong quản lý vận tải biển” [43] của nhóm tác giả Phạm Văn Cương, Hoàng Văn Hùng (2012), Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật giới thiệu các phương pháp mô hình toán tối ưu cho việc tính toán, dự báo, quy hoạch trong ngành vận tải biển. Đại học Nha trang, Viện Khoa học và Công nghệ khai thác thủy sản, Giáo trình “Quản lý nhà nước tại cảng biển” [64] của nhóm tác giả Nguyễn Quốc Khánh, Vũ Duy Tân (2012) giới thiệu khái quát công tác QLNN tại cảng biển. Học viện Hành chính Quốc gia (2013), Giáo trình “Quản lý nhà nước - Quyển I: Hành chính Nhà nước và Công nghệ hành chính” [59] và Giáo trình “Quản lý nhà nước - Quyển II: Quản lý nhà nước đối với Ngành, Lĩnh vực” [60] , Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật giới thiệu khái quát cơ sở lý luận chung về QLNN nói chung và công tác QLNN theo ngành, lĩnh vực.
Giáo trình “Lý luận quản lý hành chính nhà nước” [21] của nhóm tác giả Nguyễn Thị Bưởi (chủ biên), Trần Hoàng Hạnh, Nguyễn Khánh Chi, Nguyễn Thị Phương Oanh (2017), Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh tập trung trình bày các vấn đề: Lý luận chung về quản lý hành chính nhà nước, các lý thuyết và mô hình hành chính nhà nước, nền hành chính nhà nước, chức năng, phương pháp hành chính nhà nước. Sách chuyên khảo “Biển đảo Việt Nam và kinh tế hàng hải” [62] của tác giả Nguyễn Ngọc Huệ (2014), Nhà xuất bản Giao thông vận tải khái quát về tiềm năng biển đảo Việt Nam nói chung và tiềm năng kinh tế hàng hải nói riêng, thực trạng, quy hoạch và chính sách phát triển của kinh tế hàng hải. 3 Cuốn sách cũng tổng hợp các Công ước quốc tế về luật biển và các VBQPPL liên quan đến kinh tế hàng hải. Sách chuyên khảo “Phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia, Singapore và gợi ý chính sách cho Việt Nam” [1] của tác giả Lại Lâm Anh (2014), Nhà xuất bản Khoa học xã hội tổng hợp kinh nghiệm phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia, Singapore trong đó có kinh nghiệm phát triển kinh tế hàng hải.
Bộ sách chuyên khảo “Vững bước trên con đường đổi mới” [81] của tác giả Nguyễn Phú Trọng (2017), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tập trung vào các vấn đề đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cả hệ thống chính trị, phát huy sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc; chủ động, tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,. Sách chuyên khảo “Quản lý nhà nước về kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế” [54] của tác giả Phan Ánh Hè (2018), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh tổng hợp cơ sở lý luận chung về quản lý kinh tế của nhà nước trong hội nhập kinh tế quốc tế. Các công trình nghiên cứu trong nước: Công trình nghiên cứu “Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm nâng cao thị phần vận tải của đội tàu biển Việt Nam” [65], Luận án tiến sĩ, chuyên ngành Quản lý kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân (2008) của tác giả Vũ Thị Minh Loan. Luận án đã khái quát được công tác QLNN đối với VTB, phân tích sâu về các yếu tố tác động đến thị phần vận tải, từ đó đưa ra các giải pháp về chính sách nhằm nâng cao thị phần vận tải của đội tàu biển Việt Nam.
Công trình nghiên cứu “Hoàn thiện mô hình quản lý Nhà nước về kết cấu hạ tầng cảng biển Việt Nam” [86], Luận án tiến sĩ, chuyên ngành quản lý 4 kinh tế, Đại học Hàng hải Việt Nam (2007) của tác giả Đặng Công Xưởng. Luận án đánh giá được thực trạng mô hình QLNN về hạ tầng cảng biển và KCHT cảng biển của Việt Nam, đồng thời chỉ ra những mặt hạn chế, thiếu sót trong công tác QLNN về cảng biển và KCHT cảng biển, từ đó đề xuất hướng hoàn thiện mô hình QLNN về KCHT cảng biển Việt Nam. Công trình nghiên cứu “Đầu tư phát triển cảng biển Việt Nam giai đoạn 2005-2020” [52], Luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành Kinh tế phát triển, Đại học Kinh tế Quốc dân (2013) của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà. Luận án đã góp phần phát triển cơ sở lý luận về đầu tư phát triển cảng biển với việc đưa ra định nghĩa về đầu tư phát triển cảng biển, các chỉ tiêu đánh giá hoạt động đầu tư phát triển cảng biển.
Nghiên cứu sự phát triển cảng biển của các nước trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Công trình nghiên cứu “Quản lý nhà nước đối với dịch vụ logistics ở cảng Hải Phòng” [82], Luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành Quản lý kinh tế, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương (2015) của tác giả Nguyễn Quốc Tuấn. Luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận, thực tiễn về logistics và đưa ra mô hình logistics tại cảng biển để làm cơ sở nghiên cứu đối với dịch vụ logistics ở cảng Hải Phòng. Luận án đã đưa ra một số vấn đề lý luận chung về QLNN đối với dịch vụ logistics nói chung, dịch vụ logistics tại cảng biển nói riêng.
Đồng thời, Luận án bổ sung, hoàn thiện thêm cơ sở lý luận, đưa ra khái niệm về dịch vụ logistics tại cảng biển, luận cứ khoa học về QLNN đối với dịch vụ logistics, những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong hoạt động, đặc biệt là những vướng mắc cơ bản cần tháo gỡ trong cơ chế QLNN đối với dịch vụ logistics tại cảng Hải Phòng, trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp nhằm đổi mới QLNN đối với dịch vụ logistics tại cảng Hải Phòng. Công trình nghiên cứu “Quản lý nhà nước đối với cảng biển Việt Nam” [44], Luận án tiến sĩ, chuyên ngành Quản lý hành chính công, Học viện 5 Hành chính Quốc gia (2016) của tác giả Trịnh Thế Cường. Luận án đã nhận diện và làm rõ các vấn đề về cảng biển, sự thay đổi trong quan niệm về cảng biển trên thế giới và Việt Nam. Phân tích và làm rõ vai trò của nhà nước đối với cảng biển.