Tổng quan nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa nhanh chóng và sự bùng nổ của ngành du lịch, công nghiệp khai khoáng tại tỉnh Quảng Ninh đang tạo ra áp lực nặng nề lên hạ tầng quản lý môi trường. Theo thống kê của ngành tài nguyên, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ninh đạt khoảng 1.397 tấn/ngày, trong đó tỷ lệ thu gom và xử lý đạt 93,5% tương đương 1.245 tấn/ngày. Dự báo đến năm 2030, lượng chất thải phát sinh toàn tỉnh sẽ chạm mốc 2.362 tấn/ngày (khoảng 862.000 tấn/năm). Trong bối cảnh đó, khu vực kinh tế trọng điểm gồm thành phố Hạ Long, huyện Hoành Bồ và thành phố Cẩm Phả là nơi tập trung lượng rác thải lớn nhất, chiếm hơn 36,7% tổng lượng phát sinh toàn tỉnh với hơn 513,3 tấn/ngày.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài xuất phát từ những xung đột môi trường gay gắt, tình trạng thiếu đồng bộ trong công nghệ xử lý, nguy cơ quá tải bãi chôn lấp và sự phân tán trong khâu vận hành liên vùng. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại cụm Hạ Long - Hoành Bồ - Cẩm Phả; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đến năm 2030 theo định hướng phát triển bền vững. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát hai đô thị lớn là Hạ Long, Cẩm Phả và khu vực nông thôn Hoành Bồ, sử dụng chuỗi dữ liệu thứ cấp và sơ cấp giai đoạn 2015 đến tháng 6 năm 2019.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác để hoàn thiện quy hoạch cụm xử lý rác tập trung, tối ưu hóa công suất vận hành 900 tấn/ngày của khu xử lý tập trung và nâng cao tỷ lệ thu gom rác thải nông thôn đạt mức trên 98%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Quản lý tổng hợp chất thải rắn (Integrated Solid Waste Management - ISWM) kết hợp cùng mô hình Kinh tế tuần hoàn (Circular Economy) và nguyên tắc phân cấp quản lý chất thải 3R (Tiết giảm - Tái sử dụng - Tái chế). Khung lý thuyết này khẳng định quản lý chất thải không chỉ đơn thuần là thu dọn và chôn lấp, mà là chuỗi tương tác khép kín từ khâu kiểm soát nguồn thải, phân loại, thu gom, trung chuyển đến công nghệ xử lý và thu hồi năng lượng.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa theo quy định pháp luật hiện hành gồm:

  • Chất thải rắn sinh hoạt (theo Khoản 3 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ): Là các loại chất thải phát sinh từ hoạt động sinh hoạt thường ngày của con người, hộ gia đình và nơi công cộng.
  • Quản lý chất thải rắn: Sự kết hợp đồng bộ giữa kiểm soát nguồn phát sinh, thu gom, vận chuyển và áp dụng các giải pháp kỹ thuật tiêu hủy nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và sức khỏe con người.
  • Phân loại tại nguồn: Hoạt động phân tách chất thải thành các nhóm vô cơ, hữu cơ, tái chế và nguy hại ngay tại nơi phát sinh.
  • Thiêu hủy kỹ thuật cao: Phương pháp oxy hóa nhiệt độ cao từ 800 độ C đến 1.000 độ C theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 61:2016/BTNMT nhằm giảm 80% đến 90% thể tích rác thải.

Đặc trưng lý hóa của chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam có độ ẩm dao động rất cao từ 65% đến 95%, hàm lượng chất hữu cơ chiếm tỷ trọng lớn và nhiệt trị trung bình thấp chỉ từ 900 đến 1.100 Kcal/kg, đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt trong việc lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được cấu thành từ hai hệ thống tư liệu: dữ liệu thứ cấp thu thập từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Chi cục Bảo vệ Môi trường, niên giám thống kê và báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của ba địa phương giai đoạn 2015-2019; cùng dữ liệu sơ cấp điều tra thực tế.

Cỡ mẫu khảo sát được xác lập gồm 20 đối tượng đại diện, bao gồm các cán bộ quản lý môi trường tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả, huyện Hoành Bồ, các chuyên gia công nghệ môi trường cùng đại diện người dân sinh sống tại các khu vực thu gom trọng điểm. Tác giả lựa chọn phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên có mục đích (purposive sampling) nhằm tiếp cận trực tiếp các đối tượng có chuyên môn sâu và thẩm quyền quản lý, bảo đảm thông tin khảo sát có tính xác thực cao nhất.

Phương pháp phân tích được sử dụng là thống kê mô tả kết hợp phân tích so sánh, tổng hợp dữ liệu qua phần mềm bảng tính chuyên dụng. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm chuẩn hóa các tập dữ liệu định lượng về khối lượng rác, lưu lượng theo tuyến đường, chi phí vận hành và tỷ lệ thu gom, từ đó làm rõ bức tranh tổng thể về hiệu quả quản lý cụm liên huyện trong giai đoạn từ năm 2015 đến giữa năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh có sự phân hóa mạnh mẽ theo mức độ đô thị hóa và quy mô dân số. Năm 2018, thành phố Hạ Long dẫn đầu với tổng khối lượng phát sinh đạt 105.850 tấn/năm (tương đương 290 tấn/ngày), chỉ số phát sinh bình quân đạt 1,18 kg/người/ngày. Thành phố Cẩm Phả đứng thứ hai với 70.554,5 tấn/năm (tương đương 193,3 tấn/ngày), chỉ số bình quân đạt 0,98 kg/người/ngày. Huyện Hoành Bồ có khối lượng phát sinh thấp nhất với 10.950 tấn/năm (tương đương 30 tấn/ngày), chỉ số bình quân đạt 0,57 kg/người/ngày. Tổng khối lượng rác phát sinh toàn cụm đạt 513,3 tấn/ngày, chiếm gần 37% tổng lượng rác của tỉnh Quảng Ninh.

Thứ hai, tại thành phố Hạ Long, phát sinh rác thải có sự chênh lệch lớn giữa hai khu vực: Miền Đông (13 phường) phát sinh 63.596,83 tấn/năm (chiếm 60,1%), trong khi Miền Tây (7 phường) phát sinh 42.253,17 tấn/năm (chiếm 39,9%). Rác thải sinh hoạt từ khu dân cư chiếm tỷ trọng áp đảo 82%, rác kinh doanh dịch vụ chiếm 18%.

Thứ ba, công tác thu gom đạt tỷ lệ rất cao ở khu vực đô thị với 100% tại Hạ Long và Cẩm Phả, trong khi khu vực nông thôn Hoành Bồ đạt 90%. Về xử lý, địa bàn nghiên cứu đã chuyển dịch hoàn toàn từ hình thức chôn lấp nhỏ lẻ sang mô hình cụm tập trung tại Trung tâm xử lý chất thải rắn xã Vũ Oai và Hòa Bình (do Công ty Cổ phần Tập đoàn INDEVCO vận hành) với 06 lò đốt có tổng công suất thiết kế 900 tấn/ngày, xử lý toàn bộ lượng rác của 3 địa phương.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân tạo ra sự chênh lệch về khối lượng phát sinh xuất phát từ mật độ dân cư tập trung cao, sự phát triển mạnh mẽ của ngành dịch vụ du lịch tại Hạ Long và hoạt động công nghiệp khai thác than tại Cẩm Phả. Ngược lại, Hoành Bồ là huyện miền núi có 3/4 diện tích là đất rừng, dân cư phân tán nên lượng rác thấp hơn nhiều.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng rác thải giữa các khu vực nội vùng và bảng ma trận đối chiếu chỉ số phát sinh bình quân theo đầu người giữa các đô thị. Việc thể hiện này làm nổi bật ưu thế vượt trội về hiệu quả thu gom đô thị của cụm nghiên cứu (đạt 100%) so với mức trung bình 87,98% của đô thị cả nước, và mức thu gom nông thôn Hoành Bồ (90%) vượt xa mức trung bình 61,94% của nông thôn toàn quốc.

Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra bất cập lớn: rác thải hoàn toàn chưa được phân loại tại nguồn. Rác hữu cơ có độ ẩm 65% đến 95% bị trộn lẫn với rác vô cơ khiến nhiệt trị hạ thấp, gây khó khăn lớn cho việc vận hành lò đốt duy trì nhiệt độ từ 800 độ C trở lên theo QCVN 61:2016/BTNMT. Điều này tiềm ẩn nguy cơ phát sinh khí thải thứ cấp và làm gia tăng chi phí vận hành tại Trung tâm xử lý Vũ Oai - Hòa Bình.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại cụm Hạ Long - Hoành Bồ - Cẩm Phả đến năm 2030:

Thứ nhất, hoàn thiện khung thể chế và chính sách quản lý nguồn thải. Ban hành quy chế bắt buộc phân loại rác tại nguồn thành 3 nhóm (hữu cơ dễ phân hủy, tái chế và rác còn lại) cho 100% cơ quan, công sở và tối thiểu 80% hộ gia đình đô thị trước năm 2025. Triển khai lộ trình giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền căn cứ trên khối lượng xả thải theo Quyết định 2625/2017/QĐ-UBND. Chủ thể chịu trách nhiệm: UBND tỉnh Quảng Ninh, Sở Tài nguyên và Môi trường.

Thứ hai, tối ưu hóa mạng lưới thu gom và nâng cấp hạ tầng trung chuyển. Đầu tư xây dựng bổ sung 3 trạm trung chuyển kín, hiện đại có tích hợp thiết bị nén ép rác tự động dọc tuyến Quốc lộ 18A và Quốc lộ 279. Chuẩn hóa hệ thống xe gom chuyên dụng nhằm nâng tỷ lệ thu gom rác thải tại các xã vùng sâu của Hoành Bồ từ 90% lên 98% giai đoạn 2021-2025. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý dịch vụ công ích và UBND thành phố Hạ Long, Cẩm Phả.

Thứ ba, chuẩn hóa công nghệ thiêu hủy và kiểm soát môi trường nghiêm ngặt. Nâng cấp hệ thống xử lý khí thải và nước rỉ rác tại Trung tâm xử lý Vũ Oai - Hòa Bình, bảo đảm nhiệt độ buồng đốt thứ cấp luôn đạt trên 850 độ C đến 1.000 độ C theo chuẩn QCVN 61:2016/BTNMT, giảm thiểu tối đa khí dioxin/furan. Duy trì công suất xử lý ổn định 513,3 tấn/ngày và sẵn sàng tiếp nhận công suất mở rộng 900 tấn/ngày. Chủ thể thực hiện: Công ty Cổ phần Tập đoàn INDEVCO phối hợp cùng Chi cục Bảo vệ Môi trường.

Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa tài chính và tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng. Tổ chức thường niên các chiến dịch truyền thông giảm rác thải nhựa tại các điểm du lịch ven vịnh; đa dạng hóa nguồn vốn thông qua mô hình đối tác công tư (PPP), phấn đấu nâng tỷ trọng vốn đầu tư doanh nghiệp vào hạ tầng xử lý rác lên 40% vào năm 2030. Chủ thể thực hiện: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, UBND các cấp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước về môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hạ Long, Cẩm Phả). Sử dụng nguồn số liệu phát sinh 513,3 tấn/ngày và mô hình quản lý cụm liên huyện để hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch quản lý môi trường phù hợp với định hướng quy hoạch theo Quyết định 4012/QĐ-UBND.

Thứ hai, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích và xử lý chất thải (Công ty Cổ phần Tập đoàn INDEVCO, các công ty môi trường đô thị). Sử dụng các chỉ số phát sinh thực tế (1,18 kg/người/ngày tại Hạ Long và 0,98 kg/người/ngày tại Cẩm Phả) để tối ưu hóa lộ trình xe vận chuyển, định cỡ trạm trung chuyển và hiệu chỉnh quy trình vận hành lò đốt.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Môi trường, Khoa học Môi trường và Đô thị học. Khai thác khung phương pháp đánh giá ISWM, phương pháp khảo sát thực địa và bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thu gom làm tư liệu giảng dạy và nghiên cứu học thuật.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội phát triển du lịch bền vững. Tham khảo thực trạng ô nhiễm rác thải du lịch tại vùng ven vịnh để xây dựng các dự án giảm thiểu rác thải nhựa đại dương và thúc đẩy lối sống xanh tại các đô thị ven biển.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng ngày tại cụm Hạ Long - Hoành Bồ - Cẩm Phả là bao nhiêu? Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh toàn cụm năm 2018 đạt khoảng 513,3 tấn/ngày, tương đương trên 187.000 tấn/năm. Trong đó, thành phố Hạ Long phát sinh 290 tấn/ngày, thành phố Cẩm Phả phát sinh 193,3 tấn/ngày và huyện Hoành Bồ phát sinh 30 tấn/ngày. Lượng rác của 3 địa phương này chiếm xấp xỉ 36,7% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh của toàn tỉnh Quảng Ninh (1.397 tấn/ngày).

Mô hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo cụm tại khu vực nghiên cứu có ưu điểm gì vượt trội? Mô hình cụm giúp tập trung toàn bộ 513,3 tấn rác thải/ngày về Trung tâm xử lý rác thải xã Vũ Oai - Hòa Bình với quy mô 06 lò đốt đạt công suất 900 tấn/ngày. Giải pháp này giúp xóa bỏ hoàn toàn các bãi chôn lấp rác lộ thiên gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, tiết kiệm quỹ đất đô thị quý giá và giảm thiểu từ 80% đến 90% khối lượng rác thải cần xử lý cuối cùng.

Những rào cản lớn nhất trong công tác thu gom và vận chuyển rác tại huyện Hoành Bồ là gì? Hoành Bồ có địa hình đồi núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên, mật độ dân cư tại 12 xã thưa thớt, khoảng cách giữa các thôn bản xa xôi khiến cung đường vận chuyển kéo dài. Thêm vào đó, địa bàn thiếu các điểm tập kết trung chuyển rác khép kín, nguồn thu phí vệ sinh từ người dân chưa đủ bù đắp chi phí vận hành cho các tổ thu gom tự quản địa phương.

Đặc tính lý hóa của chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương ảnh hưởng ra sao đến công nghệ lò đốt? Chất thải sinh hoạt của khu vực có độ ẩm cao từ 65% đến 95% và nhiệt trị thấp chỉ từ 900 đến 1.100 Kcal/kg do chứa nhiều thành phần hữu cơ chưa qua phân loại. Điều này làm giảm nhiệt độ buồng đốt, đòi hỏi phải tiêu tốn thêm nhiên liệu phụ trợ để duy trì mức nhiệt tối thiểu từ 800 độ C đến 1.000 độ C theo đúng quy chuẩn QCVN 61:2016/BTNMT.

Luận văn đề xuất lộ trình tài chính nào để bảo đảm tính bền vững cho hệ thống quản lý rác thải đến năm 2030? Luận văn khuyến nghị chuyển đổi triệt để từ cơ chế trợ cấp ngân sách sang áp dụng giá dịch vụ thu gom, xử lý tính theo khối lượng xả thải thực tế căn cứ Quyết định 2625/2017/QĐ-UBND. Đồng thời, đẩy mạnh cơ chế hợp tác công tư (PPP) nhằm thu hút 40% nguồn vốn xã hội hóa cho các dự án chuyển đổi công nghệ đốt rác phát điện hiện đại đến năm 2030.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại cụm kinh tế trọng điểm Hạ Long - Hoành Bồ - Cẩm Phả với quy mô 513,3 tấn/ngày, chỉ rõ sự phân hóa sâu sắc giữa đô thị du lịch, công nghiệp và khu vực nông thôn miền núi.
  • Khẳng định tính đúng đắn và vượt trội của mô hình xử lý rác tập trung theo cụm tại Trung tâm xử lý Vũ Oai - Hòa Bình với 06 lò đốt công suất 900 tấn/ngày, giúp tỷ lệ thu gom đô thị đạt mức tuyệt đối 100%.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn cốt lõi nằm ở khâu phân loại rác tại nguồn chưa được thực hiện, khiến độ ẩm rác cao từ 65% đến 95%, gây cản trở lớn đến hiệu suất xử lý nhiệt và đe dọa phát sinh ô nhiễm thứ cấp.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về thể chế chính sách, tối ưu hóa hạ tầng trung chuyển, chuẩn hóa công nghệ lò đốt đạt chuẩn QCVN 61:2016/BTNMT và đa dạng hóa nguồn lực tài chính xã hội hóa.
  • Đóng góp nguồn cơ sở dữ liệu khoa học và thực tiễn vững chắc phục vụ công tác quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định 4012/QĐ-UBND.

Các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương và doanh nghiệp vận hành cần nhanh chóng phối hợp ban hành quy chế bắt buộc phân loại rác tại nguồn ngay trong giai đoạn 2021-2025. Hãy chủ động tham khảo chi tiết các kết quả phân tích trong luận văn để ứng dụng hiệu quả vào công tác quản lý chất thải rắn, chung tay bảo vệ môi trường vịnh di sản và thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn phát triển bền vững.