CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về hình thức chăn nuôi và nghề nuôi gà 1. Các hình thức chăn nuôi Đối với gà, hiện nay xã Hòa Sơn đang tồn tại 3 phương thực chăn nuôi chủ yếu đó là: Chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ (chăn nuôi quan cảnh), chăn nuôi bán công nghiệp (quy mô vừa, thả vườn), chăn nuôi công nghiệp (quy mô lớn, tập trung) a, Chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ Đây là phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ có từ lâu đời. Đặc điểm là gia cầm được nuôi thả rông, gia cầm tự ấp và nuôi con, tự tìm kiếm thức ăn là chính [7].
Do vậy môi trường chăn nuôi không đảm bảo nên gia cầm dễ mắc bệnh, dễ lây lan mỗi khi có dịch xảy ra, tỷ lệ nuôi sống thấp (chỉ đạt khoảng 55 % - 60 %) và hiệu quả chăn nuôi không cao. Tuy vậy, phương thức chăn nuôi này không đầu tư lớn, phù hợp với các giống gia cầm địa phương và chất lượng thịt ngon. b, Phương thức chăn nuôi bán công nghiệp Đây là phương thức chăn nuôi có sự kết hợp những kinh nghiệp chăn nuôi truyền thống và kỹ thuật nuôi dưỡng tiên tiến [7]. Đặc biệt của của phương thức này là quy mô đàn gia cầm từ 100 - 300 con, vừa kết hợp với chăn nuôi thả vườn, vừa bổ sung thức ăn công nghiệp, đồng thời áp dụng các quy trình phòng bệnh nên tỷ lệ nuôi sống và hiệu quả chăn nuôi cao hơn phương thức trên.
Thời gian nuôi rút ngắn hơn so vơi chăn nuôi nhỏ lẻ. c, Phương thức chăn nuôi công nghiệp Trên địa bàn xã Hòa Sơn có 3 trại nuôi gia cầm giống, được nuôi theo hình thức công nghiệp. Nhìn chung chăn nuôi gia cầm theo phương thức công nghiệp là một hình thức chăn nuôi mới lạ với người dân, xuất hiện từ vài năm trở lại đây. Nghề nuôi gà Do đặc điểm sinh lý, sinh thái của loài gà, nghề nuôi gà ngày nay mang những nét đặc thù cơ bản sau: - Chu kỳ sinh sản ngắn, vòng quay của vốn nhanh.
Do vậy nhịp điệu sản xuất là khẩn trương, mọi sai sót hầu như không có thời gian khắc phục [4]. - Quy trình công nghệ chính xác và nghiêm ngặt (đặc trưng của sản xuất công nghiệp). 5 - Sự phân hóa chuyên môn sâu. Nếu trước đây người ta nuôi gà vừa để lấy thịt vừa để lấy trứng, vừa để lấy gà giống… trong cùng một đàn thì ngày nay, gà công nghiệp đã có sự phân hoá cụ thể cho từng lứa gà, đàn gà.
Thịt và trứng là hai sản phẩm từ gà, nhưng hai tính năng này hình như có sự “tương kỵ” trên cùng một cơ thể: gà thịt tốt (chóng lớn nặng cân) thì thường để kém và ngược lại. Vì vậy di truyền - giống, đã phải tạo ra những giống gà chuyên dụng để chỉ dùng vào mục đích nhất định: lấy thịt hoặc lấy trứng. Ngoài ra, để phục vụ cho tái sản xuất thì việc nuôi dưỡng, chăn sóc các đàn giống lại phải theo một cách thức riêng biệt. Vì vậy, trên đại thể, nuôi gà lúc này chia ra làm 3 hình thức chính: a,Nuôi lấy thịt: Là hình thức phổ biến nhất vì dễ làm (quy trình kỹ thuật đỡ phức tạp nhất) chu kì sản xuất ngắn thích hợp với mọi quy mô: từ vài con cho đến hàng nghìn con [3].
Khác với nếp nghĩ trước đây: “gà nào chả để ăn thịt” và gà thịt phải càng to càng quý… Hiện nay nuôi gà thịt là nuôi gà từ lúc mới nở đến khoảng 2 tháng tuổi (thường là 56 hoặc 49, thậm chí chỉ 42 ngày tuổi) gà nặng khoảng 1,5-2,0 kg. Để đáp ứng yêu cầu đó, phải có các giống gà chuyên dụng thịt (gọi tắt là gà giống thịt). Các giống này có đặc điểm chung là tầm vóc to (gà mái 2,5-3 kg, gà trống 3,5-4,0 kg) và lớn nhanh (đạt khối lượng 1.5 kg thịt trong lúc 56-45 ngày tuổi), hiệu xuất sử dụng thức ăn cao tốn 2,0-2,5 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng) nhưng năng suất trứng kém (140-170 trứng/gà mái/ năm) và để sản xuất ra 1 quả trứng gà cần đến 350 gram thức ăn bình quân. Ngày nay để nuôi lấy thịt người ta thường dùng những con giống lai theo các công thức nhất định gồm từ 3-4 máu (dòng), gọi là gà Broiler.
Đây là biện pháp tiên tiến nhất được áp dụng phổ cập ở các nước có nền sản xuất gà công nghiệp phát triển và đang được phổ biến ở Việt Nam. Trong việc nuôi gà thịt, thì về mặt quản lý - việc tính toán thời điểm xuất chuồng thích hợp rất là quan trọng. Sau thời điểm này gà thường ăn rất khoẻ nhưng lớn rất chậm. Tốt nhất là phải sắp xếp làm sao để gà vừa đủ tiêu chuẩn (thể trọng) là xuất chuồng được ngay, nếu kéo dài chi phí rất lớn.
b, Nuôi lấy trứng: Tương tự nuôi lấy thịt, sản phẩm của đàn gà này là trứng thực phẩm (trứng thương phẩm- khác với trứng để ấp: trứng thương phẩm là trứng không có trống. Gà nuôi ở đây là các giống - chuyên dụng trứng (gọi tắt là gà giống trứng). Đặc điểm chung của gà giống trứng là đẻ rất sai: 230-270 trứng, thậm chí 310 trứng/gà mái/1 năm. 6 Nhưng tầm vóc bé (gà mái 1,7-1,8 kg, gà trống 2,5-3,5 kg).
Vì vậy gà ăn ít và hiệu xuất sử dụng thức ăn cho việc sản xuất trứng rất cao, thường chỉ tốn 170-190g có khi chỉ 150g thức ăn cho 1 quả trứng [3]. Vì mục đích chỉ để lấy trứng thực phẩm nên các đàn gà này không bao giờ có trống. Làm như thế có hai điều lợi: Một là: tiết kiệm được một khoản chi phí lớn về chuồng trại, công cụ, sức lao động và đặc biệt là thức ăn cho gà trống, và hai là: trứng của gà không trống thì bảo quản dễ hơn và thời gian bảo quản lâu hơn (so với trứng có trống, trứng được thụ tinh) Cũng như gà thịt, gà trứng cũng có thể nuôi với quy mô khác nhau: từ vài con đến vài nghìn con và hơn nữa - tuỳ theo khả năng và cơ sở vật chất (chuồng trại) và vốn ban đầu [3]. Vì sản phẩm không tập trung vào một thời điểm mà giải đều đặn, thường xuyên trong cả một thời gian dài nên việc tiêu thụ (đầu ra) không bị căng thẳng, dồn nén mà hoàn toàn có thể chủ động về kế hoạch.
c, Nuôi sinh sản: Khác với “nuôi lấy thịt” và “nuôi lấy trứng”, sản phẩm của việc nuôi gà sinh sản là quả trứng giống, nghĩa là quả trứng để đưa vào ấp ra những con gà giống, có thể là giống thịt, giống gà cảnh… Do vậy hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn việc nuôi gà thương phẩm (giá trứng giống thường bằng 2,5 đến 4 lần giá trứng thương phẩm) Chu kỳ sản xuất của gà sinh sản thường là 18 tháng gồm 6 tháng nuôi gà con, gà hậu bị và 12 tháng nuôi gà đẻ lấy trứng ấp giống. Khác với nuôi láy thịt và lấy trứng, quy mô đàn của “nuôi sinh sản” không thể nhớ, phải tính bằng trăm, bằng nghìn gà mái. Ngoài ra còn phải nuôi cả gà trống, yêu cầu kỹ thuật (ăn, ở, chăn sóc, phòng bệnh…) đều phải cao hơn hẳn do vậy đương nhiên là phải có một số vốn ban đầu đủ lớn (kể cả chuồng trại) so với quy mô định nuôi thì hãy tính đến chuyện nuôi sinh sản [3]. Vậy đặc điểm nổi bật của ngành chăn nuôi gà là: Gà cung cấp một số lượng lớn sản phẩm thịt, trứng giàu chất dinh dưỡng đáp ứng cho nhu cầu ngày càng cao của con người.
Phát triển chăn nuôi gà còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở những lơi có điều kiện thuận lợi để phát triển Mức lợi nhuận còn phụ thuộc nhiều yếu tố nhưng nếu có biện pháp chăn nuôi thích hợp (giống,thức ăn, thuốc thú y, cách và thời gian chăm sóc… thì khả năng lợi nhuận sẽ cao hơn. Gà tận dụng thức ăn sẵn có trong thiên nhiên, thực phẩm dư thừa trong sinh hoạt. 7 Ngoài mục đích sản xuất thịt và trứng có hiệu quả, người chăn nuôi còn có thể kết hợp nuôi chăn thả với việc bảo vệ mùa màng theo hệ sinh thái kết hợp. Phân gà được dùng bón cho cây trồng giúp người dân tiết kiệm được tiền đầu tư mua phân bón và bảo vệ được môi trường không bị ảnh hưởng độc hại do lạm dụng các chất hoá học trong sản xuất nông nghiệp hiện nay.
Một số khái niệm cơ bản * Hiệu quả Hiệu quả là khái niệm chung để chỉ các kết quả hoạt động của các sự vật, hiện tượng bao gồm: hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường [6]. a, Hiệu quả kinh tế Một số lý luận chung về hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế, chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình khai thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người để phục vụ cho lợi ích của con người [6]. Các nhà sản xuất và nhà quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế nhằm đạt được mục tiêu là với khối lượng tài nguyên nguồn lực nhất định tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa có giá trị lớn nhất. Nói cách khác là ở một mức độ khối lượng và giá trị sản phẩm nhất định thì phải làm thế nào để chi phí sản xuất là thấp nhất.
Như vậy quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố nguồn lực đầu vào và khối lượng sản phẩm đầu ra, kết quả cuối cùng của mối liên hệ này là thể hiện tính hiệu quả trong sản xuất, với cách xem xét này, có nhiều ý kiến thống nhất với nhau về hiệu quả kinh tế, có thể khái quát hiệu quả kinh tế như sau: Hiệu quả kinh tế được biểu hiện là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được với chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các yếu tố nguồn lực đầu vào [6]. Mối tương quan này cần xét cả về tương đối và tuyệt đối, cũng như xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó. Một phương án đúng hay một giải pháp kinh tế kỹ thuật, hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Hiệu quả kinh tế trước hết được xác định bởi sự so sánh tương đối (thương số) giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó [6].