Chương 1: Cơ sở luận về đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại theo mô hình CAMELS. Chương 2: Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Á Châu theo mô hình CAMELS. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua việc đánh giá từ mô hình CAMELS tại Ngân hàng TMCP Á Châu 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI THEO MÔ HÌNH CAMELS 1. Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM 1.
Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Hiệu quả hoạt động kinh doanh luôn được chú trọng hàng đầu trong hoạt động của các doanh nghiệp. Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này sẽ tiếp cận khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh ở lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là các NHTM. Trong đó có các quan điểm nổi bật: Theo nhà kinh tế học Adam Smith, hiệu quả là kết quả đạt được trong kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa. Theo định nghĩa trong cuốn “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, Kinh tế lượng Anh – Việt” trang 255 của PGS.TS Nguyễn Khắc Minh thì hiệu quả trong kinh tế được định nghĩa là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”.
Ngân hàng là loại hình doanh nghiệp có tính đặc thù, ở góc độ cụ thể hơn có những quan điểm riêng về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng: Peter S.Rose (2004) cho rằng: về bản chất NHTM cũng được xem như là một tập đoàn kinh doanh, mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận và chấp nhận mức độ rủi ro ở mức độ cho phép. Các ngân hàng luôn hướng đến việc đạt được hiệu quả hoạt động kinh doanh cao vì nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Theo ngân hàng trung ương châu Âu ECB (2010), hiệu quả hoạt động kinh doanh là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững, lợi nhuận ban đầu dùng để bù đắp vốn sau đó là lợi nhuận để lại tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh. Như vậy, hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
Tuy nhiên, ngân hàng là trung gian tài chính, tiềm ẩn nhiều rủi ro nên ngân hàng được đánh giá có hoạt động hiệu quả hay không ngoài việc đạt được lợi nhuận tối đa còn đáp ứng các yêu cầu về an toàn hoạt động và giảm thiểu rủi ro. Do đó, khi xét đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng cần xét đến các yếu tố: vốn, chất lượng TS, năng lực quản lý, thanh khoản,… 7 1. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Cùng với sự phát triển mạnh của nền kinh tế Việt Nam, ngành dịch vụ ngân hàng những năm gần đây đã có sự tăng trưởng vượt bậc khi số lượng các NHTM được cấp phép thành lập gia tăng và các NHTM cũ liên tục mở rộng mạng lưới chi nhánh. Bên cạnh đó từ năm 2010, ngành ngân hàng Việt Nam cho phép mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ ngân hàng dẫn đến các ngân hàng nước ngoài liên tục mở rộng quy mô hoạt động tại Việt Nam.
Chính những sự tăng trưởng về số lượng và quy mô hoạt động này đã dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam về thị phần, về chất lượng dịch vụ, về giá. Đây chính là thách thức cho các ngân hàng thương mại trong nước phải có một sự đổi mới một cách toàn diện nếu không muốn bị tụt lại phía sau thậm chí bị sáp nhập hoặc mua lại bởi các ngân hàng khác. Vì vậy việc NHTM đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh góp phần tăng sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng tính thanh khoản, hài hòa giữa yếu tố rủi ro và lợi nhuận, đặc biệt là xây dựng được thương hiệu ngân hàng, lòng tin đối với khách hàng.
Đây là yếu tố tất yếu của mỗi ngân hàng có thể trụ vững và phát triển trong một cơ chế thị trường cạnh tranh khốc liệt. Các phƣơng pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiện nay trên thế giới và Việt Nam có nhiều phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh, mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng và phù hợp với từng nền kinh tế khác nhau. Tùy theo quan điểm nghiên cứu, thu thập số liệu mà tác giả sẽ nghiên cứu phương pháp nào phù hợp với điều kiện nghiên cứu của mình cũng như nền kinh tế của Việt Nam. Phương pháp đánh giá thông qua các chỉ tiêu tài chính Phương pháp đánh giá thông qua các chỉ tiêu tài chính là phương pháp truyền thống, sử dụng các nhóm chỉ tiêu tài chính cơ bản để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM, gồm: nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời, nhóm chỉ tiêu phản ánh thu nhập – chi phí và nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính.
8 Phương pháp này cho phép so sánh các ngân hàng với nhau và của một ngân hàng theo thời gian. * Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời giúp đánh giá giá trị lợi nhuận được tạo ra từ một đồng vốn kinh doanh. Theo thông lệ quốc tế, đánh giá khả năng sinh lời của NHTM được đánh giá qua các chỉ tiêu sau: Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): đo lường thu nhập cổ đông nhận được từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng. ROE = Lợi nhuận sau thuế/ vốn chủ sở hữu bình quân Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng TS (ROA): đánh giá khả năng chuyển TS của ngân hàng thành thu nhập ròng.
ROA = Lợi nhuận sau thuế/ Tổng TS bình quân Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM): phản ánh tốc độ tăng trưởng thu từ lãi so với tốc độ tăng của chi phí. NIM = Thu nhập lãi thuần/ Tổng TS sinh lời Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi thuần (NNIM): đo lường chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi với chi phí ngoài lãi. NNIM = Thu nhập ngoài lãi thuần/ Tổng TS bình quân Tỷ lệ chi phí thu nhập (CIR): phản ánh mối quan hệ giữa thu nhập và chi phí cho thấy rằng hiệu quả hoạt động của ngân hàng ra sao. CIR = Tổng chi phí hoạt động/ Tổng thu nhập * Nhóm chỉ tiêu phản ánh thu nhập – chi phí Nhóm chỉ tiêu phản ánh thu nhập – chi phí được sử dụng để đánh giá tính hợp lý của thu nhập, chi phí đồng thời đánh giá mức độ hiệu quả của NHTM trong việc tối đa hóa thu nhập và tối thiểu hóa chi phí.
Việc đánh giá tính hợp lý của thu nhập, chi phí được thể hiện qua các chỉ tiêu: 9 Tỷ lệ chi phí lãi trên thu nhập lãi: đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay trong mối tương quan với hoạt động huy động vốn. Tỷ lệ chi phí lãi trên thu nhập lãi = Chi phí lãi/ Thu nhập lãi Tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động: đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay trong mối tương quan với chi phí hoạt động, phản ánh khả năng bù đắp chi phí trong hoạt động của ngân hàng. Tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập = Chi phí hoạt động/ Thu nhập hoạt động Tỷ lệ thu nhập hoạt động trên tổng TS: đánh giá hiệu quả sử dụng TS. Tỷ lệ thu nhập hoạt động trên tổng TS = Thu nhập hoạt động/ Tổng TS Năng suất lao động bình quân: đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong việc tạo ra thu nhập cho ngân hàng.
Năng suất lao động bình quân = Thu nhập hoạt động/ Tổng số cán bộ nhân viên * Nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính Nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính dùng để phản ánh mức độ biến động của lợi nhuận, vốn cổ phần trước các yếu tố rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất,…Việc đánh giá rủi ro tài chính của ngân hàng được thể hiện qua các chỉ tiêu: Tỷ lệ nợ xấu: đánh giá hiệu quả quản lý khoản vay, tổn thất tiềm tàng phát sinh từ rủi ro tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu = Dư nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5/ Tổng dư nợ cho vay Hệ số đòn bẩy tài chính: mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính thể hiện rủi ro tài chính của ngân hàng. Hệ số đòn bẩy tài chính = Nợ phải trả/ vốn chủ sở hữu Tỷ lệ TS thanh khoản trên nguồn vốn huy động: khả năng đảm bảo của TS thanh khoản đối với các khoản huy động tiền gửi Tỷ lệ TS thanh khoản trên huy động = TS thanh khoản/ Tiền gửi 10 Phương pháp đánh giá thông qua các chỉ tiêu tài chính là một phương pháp truyền thống, đơn giản dễ hiểu nên được sử dụng khá phổ biến. Tuy nhiên các chỉ tiêu đánh giá còn rời rạc, chưa mang tính hệ thống nên dẫn tới kết quả phân tích thiếu chính xác không bao quát được hết khía cạnh của phạm vi rộng lớn là hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Phương pháp đánh giá theo mô hình CAMELS Mô hình CAMELS là các nhân tố tài chính và phi tài chính nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và mức độ rủi ro của NHTM một cách toàn diện trên nhiều khía cạnh, do Cục Quản lý các TCTD Hoa kỳ NCUA xây dựng từ những năm 70 của thế kỷ XX. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997, mô hình này được IMF và WB khuyến nghị áp dụng ở các nước bị khủng hoảng như một trong các biện pháp tái thiết khu vực tài chính. Đây là mô hình phân tích hoạt động rất phổ biến và được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Mô hình CAMELS dựa trên 6 yếu tố: (C) Capital Adequacy Mức độ an toàn vốn (A) Asset Quality Chất lượng TS Có (M) Management Ability Năng lực quản lý (E) Earnings Lợi nhuận (L) Liquidity Tính thanh khoản (S) Sensitivity to Market Risk Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường Với 6 nhân tố này, mô hình CAMELS sẽ đánh giá hoạt động ngân hàng theo 3 nhân tố chính: an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của ngân hàng.
Tiêu chí an toàn được đánh giá thông qua yếu tố: mức độ an toàn vốn, chất lượng TSC và năng lực quản lý, nghĩa là khả năng ngân hàng bù đắp được mọi chi phí và thực hiện được các nghĩa vụ của mình.