CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN CỦA NGÀNH HẢI QUAN VIỆT NAM 1. Lý luận chung về kiểm tra sau thông quan. Khái niệm kiểm tra sau thông quan. Đề cập về hoạt động KTSTQ, từ ngữ của Tổ chức HQ thế giới (WCO) và hầu hết các nước (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Đài Loan) sử dụng là Post - Clearance Audit (viết tắt là PCA).
Tuy nhiên, một số nước không dùng từ “audit”, mà dùng từ khác, ví dụ: Nhật Bản dùng từ “examination” (Post - Entry Examination Assistant System; Post - Entry Examination and Customs Area Division); Thổ Nhĩ Kỳ dùng từ “control” (Turkey Customs Regulation of Post - Clearance Control and Control of Risky Transaction). Tuy từ ngữ khác nhau, nhưng nội hàm là giống nhau. Vấn đề thống nhất cách hiểu và dịch từ “audit” có liên quan đến phương pháp KTSTQ nên cần được thảo luận ở đây. Ở Việt Nam, tuy từ ngữ đã được dùng trong văn bản pháp luật là “kiểm tra sau thông quan”, nhưng thực tế vẫn còn có các ý kiến khác nhau về từ “kiểm tra” này.
Các ý kiến khác nhau này không phải là không có căn cứ: - Thứ nhất, từ ngữ chuẩn mực của WCO được hầu hết các nước thành viên áp dụng là “audit”; - Thứ hai, ở Việt Nam từ trước đến nay “audit” vẫn được hiểu theo nghĩa là “kiểm toán”; - Thứ ba, thực tiễn tác nghiệp KTSTQ căn bản là kiểm tra các ghi chép (dạng giấy hoặc trên máy tính), như hồ sơ hải quan, tài liệu kế toán. còn lưu trữ tại các DN liên quan và cơ quan hải quan; - Thứ tư, phương pháp tiến hành rất gần với phương pháp kiểm toán. Tuy nhiên, khi nghiên cứu chi tiết các trường hợp sử dụng từ “audit” của WCO và một số nước khác cho thấy từ “audit” được sử dụng với nghĩa rộng hơn, ví dụ: Trong phân loại các hình thức KTSTQ, WCO dùng cả hai từ “audit” 6 và “verification” (kiểm tra, xác minh): “type of audit/verifications”, “office/desk audit/verification”; hoặc trong hình thức kiểm tra/kiểm toán tại cơ quan hải quan, WCO hướng dẫn có thể thực hiện bằng cách gửi văn bản hoặc điện thoại trao đổi: “Đối với những trường hợp nhất định, thường là trường hợp đơn giản, vấn đề đơn lẻ, việc kiểm toán (audit) có thể được thực hiện bằng hình thức trao đổi văn bản hoặc điện thoại”. Hoặc, cũng trong phân loại các hình thức kiểm tra, Hàn Quốc có quy định loại “pre-audit” thực hiện tại thời điểm làm thủ tục thông quan với nội hàm tương tự như kiểm tra khai báo của hải quan Việt Nam: Kiểm tra khai báo của người khai về mã số, thuế suất, trị giá.của hàng hóa của từng tờ khai.
Thực tiễn KTSTQ tại Việt Nam cũng cho thấy trong nhiều trường hợp KTSTQ thực sự theo nghĩa là “kiểm tra” hơn là “kiểm toán”, ví dụ: kiểm tra tại trụ sở hải quan đã kết luận được, không phải kiểm tra tại DN (chiếm phần lớn các cuộc KTSTQ trong những năm qua). Ngay cả trường hợp KTSTQ tại DN, nhiều trường hợp cũng không cần phải kiểm tra sổ, chứng từ kế toán. Vì vậy, trong nghiên cứu này tác giả đề tài không sử dụng từ “kiểm toán”, mà sử dụng cụm từ “kiểm tra sau thông quan” để chỉ hoạt động kiểm tra của hải quan sau khi hàng hóa đã được thông quan. Trên thế giới có nhiều cách thể hiện khác nhau về khái niệm KTSTQ: Theo Công ước Kyoto (sửa đổi 1999) của WCO (E3/F4, Chương II, Phụ lục tổng quát) thì KTSTQ là: Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện pháp được cơ quan HQ tiến hành nhằm xác định tính chính xác và trung thực của khai báo HQ thông qua việc kiểm tra các chứng từ, sổ kế toán, hệ thống kinh doanh và dữ liệu thương mại của các bên có liên quan.
Theo Cẩm nang hướng dẫn KTSTQ của HQ ASEAN thì: KTSTQ là một biện pháp kiểm soát có hệ thống do cơ quan HQ tiến hành nhằm đánh giá độ chính xác và trung thực của việc khai báo HQ thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ có liên quan, hệ thống kinh doanh, dữ liệu thương mại của cá nhân, các công ty tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào thương mại quốc tế. 7 Theo HQ Nhật Bản thì: KTSTQ là hoạt động kiểm tra có hệ thống nhằm thẩm định tính chính xác và trung thực của khai HQ thông qua việc kiểm tra các chứng từ, sổ kế toán, hệ thống kinh doanh, dữ liệu thương mại có liên quan được các tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến thương mại quốc tế lưu giữ. Theo HQ Thổ Nhĩ Kỳ thì: KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan HQ đối với chứng từ thương mại, việc làm thủ tục thông quan, việc mua bán hàng hóa đã được thông quan và các số liệu liên quan, những DN hoặc lô hàng có mức độ rủi ro cao, nhằm xem xét sự chính xác của nội dung khai báo và của thủ tục thông quan. Theo HQ Đài Loan thì: KTSTQ là hoạt động của cơ quan HQ.
Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hàng hóa được giải phóng, cơ quan HQ yêu cầu người NK/XK hoặc những người liên quan cung cấp hồ sơ, sổ sách, chứng từ kế toán, dữ liệu điện tử liên quan hàng hóa NK/XK; hoặc yêu cầu đối tượng KTSTQ có mặt tại cơ quan HQ để trả lời các câu hỏi của cơ quan HQ; hoặc cử công chức HQ tới kiểm tra tại cơ sở của DN. Nói chung, ở hầu hết các nước, thực chất KTSTQ là việc kiểm tra tính xác thực của các thông tin do người hoạt động kinh doanh XNK đã khai báo với cơ quan HQ thông qua việc kiểm tra các chứng từ thương mại, hồ sơ chứng từ ngân hàng, sổ sách kế toán,… có liên quan đến hàng hóa XNK. Ở Việt Nam, theo Điều 77, Luật HQ số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014: “KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan HQ đối với hồ sơ HQ, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan”. Mục đích kiểm tra sau thông quan.
Theo WCO, mục đích chính của KTSTQ là, thông qua việc kiểm tra các cơ sở dữ liệu thương mại liên quan, cơ quan đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật 8 và kiểm tra tính chính xác trong việc khai báo của DN được kiểm tra. Mục đích đó được cụ thể hóa như sau: - Thông qua việc kiểm tra hệ thống kinh doanh, sổ sách và chứng từ kế toán, cơ sở kinh doanh của DN để đánh giá mức độ đầy đủ, chính xác, tuân thủ pháp luật của việc khai. - Xác định DN đã khai và nộp đã đủ các khoản phải nộp theo quy định của pháp luật chưa. - Đảm bảo DN phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thương mại (hàng cấm và hạn chế XNK; chế độ giấy phép, hạn ngạch, quá cảnh, chứng nhận xuất xứ, vận chuyển ưu đãi, kho ngoại quan.
- Tạo thuận lợi cho kinh doanh thương mại của những DN tuân thủ pháp luật. Theo HQ Hàn Quốc, mục đích KTSTQ nhằm đơn giản hóa các chế độ quản lý thông qua áp dụng chế độ khuyến khích DN tự kiểm tra, tự đánh giá, tăng cường cơ chế kiểm tra có lựa chọn, tập trung việc kiểm tra vào những DN có sai sót, không trung thực. Theo HQ Thổ Nhĩ Kỳ, mục đích KTSTQ là nhằm xác định mức độ tuân thủ pháp luật về thuế và pháp luật khác của đối tượng kiểm tra. Nghiên cứu quy định của WCO và một số nước cho thấy đều thống nhất xác định mục đích KTSTQ là: - Mục đích trực tiếp: KTSTQ nhằm xác định tính chính xác và trung thực của nội dung khai báo, phát hiện và khắc phục có hiệu quả các sai sót, vi phạm tại khâu thông quan, kiểm soát được mức độ tuân thủ pháp luật của từng DN để áp dụng phương pháp, mức độ quản lý phù hợp.
- Mục đích chiến lược: KTSTQ tạo thuận lợi, giảm chi phí cho thương mại mà cụ thể là tạo thuận lợi cho việc thông quan nhanh hàng hóa; tăng cường hiệu quả quản lý (hiệu quả cao nhất, chi phí thấp nhất). Ở Việt Nam, theo Điều 77 Luật HQ số 54/2014/QH13 ngày 23/06/2014: “KTSTQ nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ 9 mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu của người khai hải quan”. Đối tượng kiểm tra sau thông quan. Nghiên cứu quy định của WCO và các nước thấy các nước đều xác định đối tượng KTSTQ là “người/công ty” (persons/company subject to PCA): WCO quy định: Về nguyên tắc, tất cả các DN, các bên liên quan đến hoạt động XK, NK hàng hóa hoặc đến việc nhận hàng, lưu kho, sản xuất, vận chuyển hàng hóa đều thuộc phạm vi đối tượng KTSTQ, gồm người XK/NK, người khai hải quan, người nhận hàng, chủ sở hữu hàng hóa, người mua hàng NK, đại lý, người vận tải, những người có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến các giao dịch XNK liên quan.
HQ Nhật Bản quy định: Đối tượng chính của KTSTQ là người NK và tùy theo từng trường hợp, cơ quan có thể kiểm tra thêm những người khác, như: chủ hàng thực tế, đại lý, người kinh doanh kho bãi, người vận chuyển, người mua hàng NK. HQ Hàn Quốc chia DN thành 4 loại: DN trung thực, DN được coi là trung thực, DN chịu sự giám sát chung của hải quan, DN chịu sự giám sát đặc biệt của hải quan để áp dụng cách thức, mức độ KTSTQ phù hợp. HQ Thổ Nhĩ Kỳ quy định: Đối tượng KTSTQ gồm những người, những hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến quản lý hoặc những người lưu giữ các tài liệu, dữ liệu liên quan đến quản lý. HQ Đài Loan quy định cơ quan tiến hành KTSTQ đối với người NK, người XK hoặc những người liên quan.
Các trích dẫn trên cho thấy, WCO và các nước đều xác định đối tượng KTSTQ gồm những người liên quan tới chuỗi cung ứng hàng hóa NK, XK và người sử dụng hàng hóa NK, trong đó đối tượng chính là người NK. Tuy nhiên, tiếp cận từ các hướng khác thấy: trong khái niệm KTSTQ, WCO và các nước 10 đều đề cập đồng thời hai đối tượng “tài liệu, chứng từ…” và “người lưu giữ” tài liệu, chứng từ.