Chương 1: Tổng quan về lãi suất. Chương 2: Cơ chế điều hành lãi suất của Chính phủ đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000-T. Chương 3: Giải pháp, kiến nghị với Chính phủ góp phần nâng cao hiệu quả điều hành lãi suất của Chính phủ đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong điều kiện hội nhập. 123doc - 10 - CHÖÔNG 1 TOÅNG QUAN VEÀ LAÕI SUAÁT 1.
KH¸I NIÖM vμ C¸C LO¹I l·I suÊt: 1. Khái niệm: Nhìn lại lịch sử các học thuyết kinh tế, trường phái tân cổ điển giữ vai trò thống trị vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đứng đầu trường phái này là Leon Walras (1834-1910), ông cho rằng trong cơ cấu kinh tế thị trường có 3 loại: thị trường hàng hoá, thị trường tư bản, thị trường lao động. Doanh nhân là người sản xuất ra hàng hoá để trao đổi – mua bán sản phẩm trên thị trường hàng hoá, nhưng thiếu vốn để đầu tư sản xuất hàng hoá thì phải hỏi vay vốn trên thị trường tư bản và thuê nhân công trên thị trường lao động. Trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, thị trường tư bản được coi là hạt nhân của nền kinh tế thị trường, hoạt động ngày càng sôi động, phát triển và phong phú đa dạng hơn so với 2 loại thị trường hàng hoá và thị trường lao động.
Thị trường tư bản là nơi đi vay và cho vay “tư bản”, ở đây hàng hoá được trao đổi - mua bán chủ yếu là tiền, vàng, ngoại tệ và các loại chứng từ có giá. Các chủ thể tham gia gồm người đi vay được gọi là con nợ, người cho vay được gọi là chủ nợ và giá cả tư bản trên thị trường này được gọi là lãi suất tư bản cho vay - đây cũng là vấn đề được đề cập và phân tích trong suốt luận văn này. Sau đây là một số quan điểm của các nhà kinh tế về lãi suất: 1. Quy tắc của Jean Baptiste Say (1767-1872): cho rằng lãi suất là một bộ phận của lợi nhuận mà nhà tư bản hoạt động bằng tiền đi vay phải trả cho chủ nó.
Ông lập luận đúng về hàm tiết kiệm phụ thuộc vào lãi suất, lãi suất càng cao tiết kiệm càng nhiều nhưng lại đưa ra hai kết luận thiếu chuẩn xác là tiền 123doc - 11 - không tác động gì đến lãi suất, tiết kiệm hay đầu tư và tiền không đóng vai trò gì trong thực tế của nền kinh tế. Trường phái Cambridge (Anh) - đại biểu Alfred Marshall (1842- 1924): cho rằng cầu tiền tệ thuần tuý là một hàm của thu nhập và không bác bỏ khả năng của lãi suất ảnh hưởng đến cầu tiền tệ trong ngắn hạn.Marshall cho rằng lãi suất là cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn. Trên bất kỳ thị trường nào, lãi suất thường hướng tới một mức cân bằng sao cho: Tổng cầu về vốn trên thị trường = Tổng cung vốn trên thị trường. Quan điểm của John Maynar Keynes (1884-1946): Năm 1936 tác phẩm “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của Keynes ra đời đã phê phán những quan điểm về lãi suất của các trường phái cổ điển và đưa ra một quan điểm mới về lãi suất.
Ông cho rằng lãi suất là sự trả công cho số tiền vay, nó là phần thưởng cho “sở thích chi tiêu” hay “sở thích thanh khoản”. Lãi suất còn được gọi là trả công cho sự chia li với của cải tiền tệ. Keynes coi của cải dưới hình thức tiền tệ là linh hoạt và thuận lợi nhất. Nó là hình thức đảm bảo an toàn cho những người có tiền.
Do vậy người có tiền không muốn xa rời nó. Nên việc chuyển tiền thành tư bản cho vay được Keynes gọi là “sở thích chi tiêu” và ở đây người cho vay phải chấp thuận sự mạo hiểm. Vì vậy người cho vay phải nhận được phần thưởng dưới hình thức lãi suất. Do đó người cho vay chỉ bỏ tiền của mình ra cho vay khi có lãi suất cao.
Ông cho rằng V không phải là một hằng số và phát triển học thuyết về cầu tiền tệ thành lý thuyết về sự ưa thích tiền mặt đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của lãi suất. Md Md Md = k.Y => = f(i, Y) P P Md : số dư tiền thực tế (lượng tiền theo giá trị thực tế) P i: lãi suất Y: thu nhập thực tế P 1 Phương trình về sự ưa thích tiền mặt được viết lại: = Md f (i, Y ) 123doc - 12 - Y PY Khi Md = M => = =V f (i, Y ) M Theo Keynes, cầu tiền tệ biến động nghịch chiều với lãi suất. Khi lãi suất (i) tăng thì số dư tiền thực tế giảm (f(I, Y) giảm) do đó tốc độ vòng quay tiền (V) tăng. Trường phái chính hiện đại - đại diệu là P.Nordhaus: theo họ lãi suất là giá trả cho việc sử dụng tiền hay vốn cho vay trong một thời gian nhất định.
Lãi suất là sự phản ánh tính khan hiếm về vốn. Lãi suất cũng là tiền trả cho việc dám chấp nhận những rủi ro. Họ đi sâu nghiên cứu việc dùng lãi suất như một trong những công cụ quan trọng để điều tiết kinh tế vĩ mô, tác động đến đầu tư, phân bổ nguồn vốn,… Và mối quan hệ tác động, giữa cung, cầu về tiền tệ, lạm phát và lãi suất. Quan điểm của Karl Marx (1818 - 1883): Lợi tức tín dụng xuất hiện khách quan trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá.Mác cho rằng “sau một thời gian nhất định tư bản cho vay được hoàn lại người chủ sở hữu của nó kèm theo một giá trị tăng thêm đó là lợi tức tín dụng” và ông khẳng định rằng lợi tức tín dụng là một phần của lợi nhuận do người đi vay tạo ra từ việc sử dụng vốn vay và phân phối lại cho người cho vay.
Đây là một sự phân phối lại thật hợp lý giữa người có “của” và người có “công”. Công thức tổng quát phản ánh sự vận động của tư bản cho vay (tiền tệ) được C.Mác mô tả một cách thuyết phục T-T’ hoặc T’=T+Ìt. Như vậy, lợi tức tín dụng là phần giá trị tăng thêm mà người đi vay phải trả cho người cho vay, là khoản tiền phải trả cho việc vay mượn quyền sở hữu và sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Tỉ lệ phần trăm giữa lợi tức tín dụng với toàn bộ vốn gốc đã vay mượn hay khoản tín dụng trong một thời gian nhất định chính là lãi suất.
Khi sản xuất phát triển mạnh, các ngân hàng được hình thành, đóng vai trò trung gian giữa những người có nhu cầu tiền gửi và những người có nhu cầu sử 123doc - 13 - dụng vốn. Theo đó, ngân hàng phải trả lãi cho người gửi tiền theo một tỷ lệ % nào đó tuỳ theo thời gian gửi và tiền lãi thu từ hoạt động cho vay cũng theo tỷ lệ % nhất định theo thời gian. Tỷ lệ đó là lãi suất. Tóm lại, lãi suất là giá của quyền sử dụng vốn hay là cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn trên thị trường bất kỳ và là phạm trù quan trọng nhất trong hoạt động của ngân hàng, bởi vì suy cho cùng thì hoạt động của ngân hàng bao gồm 2 hoạt động chính: (1) hoạt động huy động vốn - thu hút tiền thông qua việc nhận tiền gửi và (2) hoạt động tài trợ - cho vay.
Lãi suất huy động vốn là lãi suất tiền gửi, hoạt động tài trợ vốn là lãi suất cho vay. Lãi suất được quyết định như thế nào? Cũng giống như tất cả các loại giá cả trên thị trường, lãi suất được quyết định bởi cung và cầu – trong trường hợp này chính là cung cầu về vốn vay. Cung về vốn vay có nguồn gốc từ phần thu nhập mà các hộ gia đình muốn tiết kiệm để có được một khoản tiền lớn hơn dành cho tiêu dùng trong tương lai. Chẳng hạn, một số gia đình hiện tại có thu nhập cao nhưng nghĩ rằng sau này sẽ kiếm được ít tiền hơn khi đã nghỉ hưu.
Tiết kiệm cho phép họ dàn trải tiêu tiền mà họ đã cho vay nên họ có thể tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai để bù lại sự kiềm chế tiêu dùng trong hiện tại. Kết quả là, lãi suất càng cao thì động cơ tiết kiệm càng nhiều. Vì vậy, đường cung vốn vay sẽ là một đường dốc lên (kí hiệu là đường S trong hình 1. Cầu về vốn vay bao gồm hai bộ phận: Thứ nhất, đó là một số hộ gia đình muốn tiêu dùng nhiều hơn mức thu nhập hiện tại của họ do thu nhập của họ tạm thời là thấp nhưng có thể tăng lên trong tương lai, hoặc do họ muốn mua sắm một thứ gì đó có giá trị lớn (như mua một căn nhà, sắm một chiếc xe,…), mà sẽ phải trả nợ bằng thu nhập tương lai.
Các hộ gia đình này sẵn sằng trả lãi để không phải trì hoãn việc tiêu dùng. Tuy nhiên, lãi suất càng cao thì chi phí của việc tiêu dùng bây giờ thay vì phải chờ đợi càng lớn, do đó các hộ gia đình sẽ càng ít sẵn sàng vay tiền hơn. Cho nên cầu về vốn vay của các 123doc - 14 - hộ gia đình là một hàm nghịch biến của lãi suất (kí hiệu là đường DH trong hình 1. Thứ hai, chính là từ các doanh nghiệp muốn có vốn để đầu tư vào các dự án có giá trị hiện tại ròng là một số dương bởi vì giá trị hiện tại ròng lớn hơn không có nghĩa là thu nhập dự kiến của dự án lớn hơn chi phí cơ hội của số tiền đầu tư.
Chi phí cơ hội đó - tức là tỷ suất chiết khấu để tính giá trị hiện tại ròng - chính là lãi suất, có thể điều chỉnh theo rủi ro. Thông thường các doanh nghiệp vay tiền để đầu tư vì luồng lợi nhuận từ đầu tư sẽ đến trong tương lai, trong khi đó chi phí đầu tư lại thường phải thanh toán ngay. Do đó, nhu cầu đầu tư của các hãng chính là một nhân tố quan trọng trong cầu về vốn vay. Tuy nhiên, khi lãi suất cao thì giá trị hiện tại ròng của một dự án càng nhỏ.
Nếu lãi suất tăng, một vài dự án có giá trị hiện tại ròng trước đây là một số dương thì bây giờ trở thành số âm, và vì vậy dự án đó sẽ bị huỷ bỏ. Tóm lại, vì sự sẵn sàng đầu tư của các hãng giảm khi lãi suất tăng nên cầu về vốn vay của họ cũng giảm. Cầu về vốn của các hãng là một đường dốc xuống (kí hiệu là đường DF).