Chương 1: Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Những đóng góp mới của luận văn - Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng của Agribank giai đoạn 2016-2018 - Đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng của Agribank giai đoạn 2016-2018 - Tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank. - Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.
- Đề xuất các kiến nghị đối với Agibank, chính phủ, Ngân hàng Nhà nƣớc. Luan van 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tín dụng khách hàng cá nhân và rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân Trong lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng thì hình thức ngân hàng đầu tiên là ngân hàng của các thợ vàng hoặc ngân hàng của những kẻ cho vay nặng lãi thực hiện cho vay với các cá nhân, chủ yếu là những ngƣời giàu nhƣ quan lại, địa chủ… nhằm mục đích phục vụ tiêu dùng. Hình thức cho vay chủ yếu là thấu chi tức là cho phép khách hàng chi nhiều hơn số tiền gửi tại ngân hàng, một hình thức cho vay nhiều rủi ro.
Do lợi nhuận từ cho vay rất cao, nhiều chủ ngân hàng đã lạm dụng ƣu thế của chứng chỉ tiền gửi (lƣu thông thay vàng hoặc bạc), phát hành chứng chỉ tiền gửi khống để cho vay. Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân hàng đến chỗ mất khả năng thanh toán và phá sản. Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động thanh toán, ảnh hƣởng xấu tới hoạt động buôn bán. Hơn nữa, lãi suất cao nên những nhà buôn không thể sử dụng nguồn vay này.
Để giải quyết vấn đề này thì ngân hàng của những nhà buôn ra đời. Ban đầu ngân hàng này không cho vay đối với ngƣời tiêu dùng, không cho vay trung dài hạn, không cho vay đối với nhà nƣớc, chỉ cho vay ngắn hạn dựa trên quá trình luân chuyển của hàng hóa. Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ cùng với sự gia tăng vai trò quản lý của Nhà nƣớc đối với các ngân hàng thì hoạt động ngân hàng đã có những bƣớc tiến rất nhanh. Nhiều nghiệp vụ truyền thống vẫn đƣợc giữ vững bên cạnh các nghiệp vụ mới đang ngày càng phát triển.
Nhiều ngân hàng đã mở rộng cho vay trung và dài hạn, cho vay để đầu tƣ bất động sản, chứng khoán và cho vay tiêu dùng. Từ chỗ cho vay đối với khách hàng cá nhân bị hạn chế thì hiện nay khách hàng cá nhân là một trong những khách hàng chính của ngân hàng và mang lại cho ngân hàng lợi nhuận kinh doanh lớn. Tín dụng cá nhân không những là một khoản mục có mức sinh lời cao đối với ngân hàng thƣơng mại mà nó còn đóng góp vai trò nâng cao chất lƣợng cuộc sống đối với ngƣời dân và thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển. Khái niệm về tín dụng khách hàng cá nhân Cho vay khách hàng cá nhân là quan hệ cho vay mà Ngân hàng thƣơng mại chuyển giao về vốn trong một thời gian nhất định từ Ngân hàng thƣơng mại tới các cá nhân nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tƣ hay sản xuất kinh doanh.
Đặc điểm về tín dụng khách hàng cá nhân - Quy mô khoản vay: Ngoại trừ những khoản vay bất động sản, hầu hết các khoản vay tiêu dùng đều có giá trị nhỏ nhƣng số lƣợng các khoản vay thì lớn. - Lãi suất cho vay phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế: tăng lên khi nền kinh tế mở rộng và giảm xuống khi nền kinh tế suy thoái. - Đối tƣợng cho vay là khách hàng cá nhân có thể là những ngƣời buôn bán nhỏ, công nhân viên chức, nông dân, ngƣời sản xuất nhỏ…hoặc là đại diện của hộ gia đình ngƣời mà đƣợc các thành viên có đủ năng lực pháp luật và hành vi dân sự trong hộ gia đình ủy quyền thay mặt hộ gia đình ký hợp đồng tín dụng. Hiện nay, những ngƣời có thu nhập cao có nhu cầu vay nhiều hơn so với ngƣời có thu nhập thấp, và họ thƣờng vay với nhu cầu cao hơn thu nhập hàng năm của mình để đạt đƣợc mức sống nhƣ mong muốn hơn là một sự lựa chọn chỉ đƣợc dùng trong tình trạng khẩn cấp.
- Nguồn trả nợ: thƣờng đƣợc lấy từ lƣơng, các khoản thu nhập định kỳ hàng tháng hoặc thu nhập từ hoạt động kinh doanh cá nhân khác. - Chi phí quản trị khoản vay cá nhân lớn do ngân hàng thƣờng phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để diều tra, thu thập các thông tin ngƣời vay trƣớc khi đƣa ra quyết định cho vay. Do đó chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ cho vay cá nhân thƣờng cao hơn so với việc cho vay theo loại hình khác. - Rủi ro: các khoản tín dụng cá nhân thƣờng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng do thông tin cá nhân thƣờng không đƣợc cung cấp đầy đủ gây khó khăn cho việc thẩm định và quyết định cho vay đối với khoản tín dụng cá nhân.
Mặt khác, tình hình tài chính của cá nhân có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc hay sức khỏe của họ. Các thông tin tài chính của cá nhân thƣờng không rõ ràng và minh bạch nhƣ các báo cáo tài chính đƣợc kiểm toán của doanh nghiệp. Luan van 7 - Lợi nhuận : đối với ngân hàng thì khoản mục cho vay cá nhân là khoản mục cho vay mang lại lợi nhuận cao do rủi ro và chi phí cho vay cá nhân lớn nên ngân hàng thƣờng đặt ra mức lãi suất cao đối với khoản mục cho vay này. Mức lãi suất này phải đáp ứng đƣợc phần lợi nhuận mong đợi dự kiến và phần bù rủi ro.
Rủi ro về tín dụng khách hàng cá nhân 1. Khái niệm, bản chất của rủi ro tín dụng cá nhân a. Khái niệm rủi ro tín dụng cá nhân Rủi ro tín dụng cá nhân là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng do khách hàng vay là cá nhân không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi. Bản chất của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng cá nhân diễn ra trong quá trình ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân.
Khi thực hiện một hoạt động tài trợ nào thì ngân hàng đều cố gắng phân tích các yếu tố của ngƣời vay sao cho độ an toàn cao nhất. Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy an toàn. Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng nào tài ba có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của nhiều khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân.
Hơn nữa, nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng. Do vậy rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan, chỉ có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Sau khi phân tích kỹ khả năng có thể xảy ra các rủi ro, ngân hàng phải biết chấp nhận rủi ro, nhƣ vậy chấp nhận rủi ro cũng có nghĩa là mạo hiểm nhƣng không phải liều lĩnh, thiếu cân nhắc tính toán. Do vậy rủi ro dự kiến luôn đƣợc xác định trƣớc trong chiến lƣợc chung của ngân hàng.
Phân loại và nguyên nhân rủi ro tín dụng cá nhân a. Phân loại rủi ro tín dụng cá nhân Rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro tín dụng cá nhân nói riêng xảy ra khi ngƣời vay không trả đƣợc nợ lãi và nợ gốc đúng hạn, đầy đủ. Dựa trên phƣơng thức quản Luan van 8 lý rủi ro tín dụng hiện nay, ta cũng có thể phân chia rủi ro tín dụng KHCN thành bốn cấp độ theo mức độ rủi ro. RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN Không thu Không thu Không thu Không thu đủ đƣợc lãi đƣợc vốn đủ lãi vốn (mất vốn) đúng hạn đúng hạn 1.
Nợ không Lãi treo phát Nợ quá hạn đóng băng có khả năng sinh phát sinh 2. Miễn giảm thu hồi lãi 2.1: Sơ đồ về phân loại Rủi ro tín dụng cá nhân - Không thu đƣợc lãi đúng hạn: Cấp độ thấp nhất là khi ngƣời vay không trả đƣợc lãi đúng hạn, khi đó Ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. Hình thức rủi ro này đƣợc xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trƣờng hợp khách hàng muốn quỵt nợ, chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ việc thiếu cân đối trong kỳ hạn thu nợ và trả nợ cuả khách hàng. - Không thu đƣợc vốn đúng hạn: Khi không thu đƣợc vốn đúng hạn tình hình dƣờng nhƣ nghiêm trọng hơn, một phần do một lƣợng vốn cho vay lớn bị mất.
Khi đó, Ngân hàng sẽ chuyển số nợ vốn đó sang mục nợ quá hạn phát sinh. Khoản mục này phát sinh vào thời gian đáo hạn của hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, đấy chƣa phải là khoản mất mát hiện thực của Ngân hàng vì có thể tiến độ hoạt động kinh doanh cuả khách hàng bị chậm so với kế hoạch đã đề ra trình Ngân hàng. - Không thu đƣợc đủ lãi: Khi Ngân hàng không thu đƣợc đủ lãi thì tình hình đã trở nên nghiêm trọng hơn.
Tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã kém hiệu quả đến mức không thể trả đủ lãi cho Ngân hàng. Khi đó, Ngân hàng phải chuyển khoản lãi này vào khoản mục lãi treo đóng băng và thậm chí có thể phải thực hiện miễn giảm lãi cho khách hàng. - Không thu đủ vốn cho vay: Tình huống xấu nhất xảy ra khi ngân hàng không Luan van 9 thu đủ vốn cho vay và lúc này Ngân hàng đã bị mất vốn. Tại thời điểm này, Ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ vào mục nợ không có khả năng thu hồi hoặc phải xoá nợ, coi nhƣ khép lại một hợp đồng tín dụng không có hiệu quả.
Trên đây là bốn hình thức giúp cho NHTM nhận biết rủi ro tín dụng và có biện pháp xử lý. Tuy nhiên, không phải lúc nào gặp rủi ro tín dụng thì Ngân hàng đều phải trải qua bốn trƣờng hợp trên.