Chương 1 TONG QUAN 1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Thời gian gần đây, van đề nguyên liệu mía cho ngành mía đường là một van đề được báo chí, nhà chức trách, doanh nghiệp và người dân quan tâm. Hiện tại giá thành thành đường thành phẩm của chúng ta đang cao hơn so với các nước trong khu vực và thé giới. Mặc dù, nhiều nha máy dang làm ăn có lãi nhưng ngành mía đường vẫn còn nhiều van đề đáng quan tâm đặc biệt là sự ồn định vùng nguyên liệu mía chưa được chú trọng xây dựng và thực hiện theo hướng gắn kết bền vững.
Tìm hiểu theo Minh Phương (2013) thì liên kết trong sản xuất và kinh doanh luôn là hướng được khuyến khích phát triển của nhiều nền kinh tế trên thé giới. Ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn còn đang là nền nông nghiệp nhỏ, manh mún, sản xuất theo kiểu truyền thống. Vì vậy, sự hợp tác, liên kết trong ngành càng ngày càng cần thiết hơn bao giờ hết. Dé phát huy những lợi thế trong liên kết sản xuất nông nghiệp, theo các chuyên gia, trong thời gian tới cần đây mạnh nghiên cứu, đề xuất phát triển và tăng cường liên kết phải xuất phát từ quan điểm phát triển chuỗi nông sản, nhất là chuỗi giá trị nông sản.
Cần phải thống nhất và chú ý đồng bộ tất cả các khâu từ sản xuất đến người tiêu dùng. Theo Vũ Trọng Khải (2012) nhận định rằng sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng hay còn gọi là sản xuất theo hợp đồng bao tiêu sản phẩm cũng có những trường hợp thành công và không thành công. Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng thường phát huy tác dụng đối với những thị trường ồn định, có yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm và cần có sự điều phối trong chuỗi giá trị. Chính phủ cũng khuyến khích mô hình sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng, và hỗ trợ đối với mô hình hợp tác xã kiểu mới dé có thê liên kết các hộ sản xuât nhỏ một cách hiệu quả.
Dang sau các chủ thê nói trên là các nhà khoa học nông nghiệp và chế biến, bảo quản nông sản. Họ tạo ra công nghệ mới, những tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp và chế biến, bảo quản nông sản dé nhà nông và nhà doanh nghiệp nông dụng, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế — xã hội ngày càng cao cho cả nà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà nước và toàn xã hội. Nhà nước vừa tạo ra khuôn khổ pháp lý vừa tạo điều kiện vật chat và tài chính dé việc tổ chức sản xuất theo hợp đồng diễn ra thuận lợi, trên qui mô lớn đạt hiệu quả cao và bền vững. Theo Trần Gia Long (2013) nhận xét rằng đôi mới liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản giữa các tác nhân theo cơ chế thị trường dé nâng cao giá trị gia tăng theo chuỗi giá trị nông sản.
Chính phủ đã có nhiều chính sách thúc đây gắn kết các tác nhân chủ yếu chi phối các khâu từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ nông sản, như: Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ (chính sách liên kết 4 nhà) và Chỉ thị số 25/2008/CT-TTg ngày 10/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng. Các chính sách trên đã tác động tích cực đến hình thành nhiều vùng nguyên liệu gắn với chế biến và tiêu thụ, nhất là đối với sản xuất mía đường, thuốc lá, sữa, một số loại rau quả; đã tạo ra nhiều mặt hàng nông sản xuất khâu ồn định, giá trị cao; Dần dần, nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp đã làm quen và hình thành các hợp đồng liên kết đa dạng về hình thức và cấp độ, như các mô hình: Doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm, không đầu tư sản xuất; Doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm và đầu tư, tham gia sản xuất; Doanh nghiệp gia công sản xuất; Nông dân góp công góp sức trên đất đai canh tác. Qua liên kết, góp phan tạo động lực thúc day kinh tế hộ tham gia sản xuất hàng hóa, nâng cao năng lực hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác trong nông nghiệp. Từ nhiều mô hình thành công, đã bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm dé phát triển liên kết bền vững, như: Công tác tuyên truyền, vận động; công tác quy hoạch phải đi trước một bước; doanh nghiệp phải giữ vai trò chủ đạo trong liên kết; có sự hỗ trợ của nhà nước; có sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của chính quyền địa phương; sự tham gia của tô chức kinh tế tập thể tự nguyện của nông dân.
Theo Phương Thái (2013) cho rằng trước yêu cầu về phát triển vùng nguyên liệu mía hiện nay, đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ “oitra 4 nhà” (Nhà nước, nha khoa học, doanh nghiệp và nhà nông), bảo đảm các cơ chế chính sách của Trung ương, của địa phương, các quy chế hỗ trợ đầu tư của doanh nghiệp, các giải pháp về kinh tế - kỹ thuật của nhà khoa học cần phải được phối hợp thực hiện đồng bộ, đảm bảo đạt được yêu cầu nông dân sản xuất mía phải có lãi; doanh nghiệp thu mua, sản xuất mía đường có thị trường nguyên liệu tương đối 6n định. Bảo Trung (2013) nghiên cứu về cơ chế sản xuất — tiêu thụ mía đường của Thái Lan: Về việc thiếu hành lang pháp lý và cơ chế giám sát từ Chính Phủ trong việc phân chia thu nhập là một trong những nguyên nhân nỗi bật gây ra tình trạng thiếu liên kết giữa người trồng mía và nhà máy đường. Hiện nay, giá mua mía nguyên liệu vẫn chưa được quy định cụ thé. Nhà nước chỉ khuyến cáo giá mua mía nhưng không có cơ quan nao đứng ra kiểm tra, giám sát.
Do đó, Chính Phủ cần phải xây dựng cơ chế phân chia thu nhập hợp lý nhằm khuyến khích nông dân và nhà máy hợp tác. Các nhà máy khi đã bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định sẽ hướng tới quy mô sản xuất công nghiệp hiện đại, gia tăng thêm lợi ích kinh tế cho toàn ngành. Ngoài ra, việc nghiên cứu các giải pháp cần thiết nhằm hạn chế các cú sốc về giá do diễn biến giá hàng hóa thế giới gây ra. Tổng quan tình hình ngành mía đường trên thế giới và trong nước 1.
Tình hình sản xuất mía đường trên thế giới Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), trung bình trong 5 năm từ 2011 đến 2015 có khoảng trên 170 triệu tấn đường được sản xuất mỗi năm. Tiêu thụ mía đường toản cầu niên vụ 2015/16 đạt mức kỷ lục 173,4 triệu tan, cân bằng với sản lượng với dự báo giảm trong năm thứ 3 liên tiếp. Sản lượng mía đường năm 2016/2017 dự kiến giảm 900 nghìn tan do mức giảm sản lượng tại EU, An Độ và Ucraina nhiều hon so với mức tăng sản lượng tại các quốc gia Thái Lan, Brazil, Nga và Pakistan. (Trúc Gia và cs, 2015) 180 175 t(Trhagiônệị)áu 170 165 160 155 so | ÊẾ 09/10 10/11 11/12 12/13 13/14 14/15 15/16 mm San lượng “ẨS= Tiêu thụ Hình 1.
Cán cân cung cầu mía đường thế giới từ vụ 2009/2010 đến 2015/2016 (Nguồn: Trúc Gia và cs, 2015). Năm 2018, thị trường đường thé giới có ngồn cung dôồi dào với dự báo các nước Án Độ và Thái Lan đạt kỷ lục mới làm giá cả thị trường đường thế giới giai đoạn nửa đầu năm 2018 giảm tới mức thấp nhất so với nhiều năm trước. Giá đường thô giao ngay trung bình tháng 04/2018 là 12,03 cents/lb, giảm 1,04 cents/Ib (-8%) so với thang 3/2018 và cán mức thấp nhất ké từ năm 2008. Giá đường trắng trung bình trong tháng 04/2018 là 337,07 USD/tan giảm 4,7% (giá 353,67 USD/tan trong tháng 3/2018).
Đồng thời, chênh lệch giữa giá đường trắng và đường thô trung bình thang tăng từ 65,62 USD/tan ở tháng 3/2018 lên 71,82 USD/tan trong tháng 4/2018, tuy nhiên vẫn thấp so với mức trung bình của 3 năm liền kề trước là 84,71 USD/tắn. Tại Ấn Độ, tính đến giữa tháng 04/2018 có 227 nhà máy đường còn hoạt động với sản lượng khoảng 31,5 triệu tan, vuot nhu cau tiéu dùng 6,5 triệu tấn và chính phủ đặt ra hạn mức xuất khẩu, giải phóng tồn kho. Ở Thái Lan, tháng 04/2018 có 4/54 nhà máy đường còn hoạt động, sản lượng đường các loại đạt 14,1 triệu tấn và xuất khẩu 715 nghìn tấn đường, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2017. Vụ 2021/2022, cân bằng cung cầu đường toàn thế giới sẽ thâm hụt khoảng 1.67 triệu tấn, cao hơn ước tính 1,34 triệu tấn của ISO.
Sản lượng đường sản xuất tăng nhẹ (2,2% so với cùng kỳ năm 2020/2021), đạt 172,6 triệu tan. Suy giảm sản lượng đường của Brazil trong năm 2022 (17% so với cùng kỳ) là yếu tố chính gây ra mức thâm hụt cho dù lượng đường xuất khầu từ Ấn Độ và Thái Lan ghi nhận kỷ lục (tăng 38% và 73% so với cùn kỳ năm trước). Nhu cầu tiêu thụ đường tiếp tục phục hồi ở mức 174,3 triệu tan (tăng 2,7% trên năm), trong đó chủ yêu từ EU, Trung Quốc, An Độ (VCBS, 2023). Đơn vị: triệu tấn €9L r4 $ SE 90L 3°92 ¿t —*Š Hoa Ky Ve S Trung Quốc § N/A Mexico SOL z i HE san xuat 21/22 EESW tiêu thụ 21/22 Brazil Tỷ trọng các thị trường Thái Lan xuất khẩu mAn Độ 4% Australia Khác Hình 1.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ tại các thị trường trọng điểm năm 2023 (Nguồn: VCBS, 2023) Năm 2023, giá đường thé giới đã vượt đỉnh 10 năm. Giá đường thé giới đã dat 0,27 USD/pound (tăng 35% so với đầu năm, tăng 56% so với cùng kỳ năm trước) trong tháng 4/2023, cao hơn mức đỉnh 10 năm đo điều chỉnh giảm dự báo sản lượng của Ấn Độ và Trung Quốc. Dự phóng sản lượng của các quốc gia Án Độ và Trung Quốc được điều chỉnh giảm lần lượt là 7% và 10% do điều kiện thời tiết không thuận lợi. Theo dự báo của USDA, sản lượng đường dự trữ trên toàn thế giới sẽ giảm 13% so với cùng kỳ năm trước trong niên vụ 2022/2023 và tạo áp lực khiến cho giá đường tiếp tục neo ở mức cao.
Trong khi đó ở khu vực ASEAN, sản lượng đường sản xuất của Thái Lan đạt ở mức cao có thể làm tăng thêm áp lực cho đường nhập lậu lên nguồn cung đường Việt Nam trong vụ 2023/2024. Sản lượng đường của Thái Lan đạt 11 triệu tấn (tăng 8,3% so với cùng kỳ) bởi điều kiện thời tiết thuận lợi và ty lệ thu hồi đường từ mía cao hơn trong niên độ 2022/2023. Trong niên độ 2023/2024, sản lượng đường dự kiến sẽ tăng lên 11,2 triệu tấn (tăng 1,5% so với cùng kỳ).