Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về kinh tế hộ nông dân 1. Một số khái niệm liên quan - Khái niệm Hộ Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm khác nhau của các tổ chức, các nhà khoa học về hộ: + Theo Liên hợp quốc: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
+ Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ: “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”. + Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế”. Các khái niệm ở trên chủ yếu nêu lên những khía cạnh về khái niệm hộ tiêu biểu nhất, mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác hoặc tổng hợp khái quát chung nhưng vẫn còn có chỗ chưa đồng nhất.
Tuy nhiên, từ các quan niệm trên cho thấy hộ có các đặc trưng cơ bản như sau: + Hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống, tuy vậy cũng có cá biệt trường hợp thành viên của hộ không phải cùng chung huyết thống (con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài). + Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và phân công lao động chung; có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình. 6 + Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dầu cùng chung huyết thống bởi vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế (ví dụ: gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau). - Khái niệm Hộ nông dân + Theo tác giả Frank Ellis (Trường Đại học tổng hợp Cambridge ): “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
+ Theo tác giả Lê Đình Thắng (1993): “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. + Theo tác giả Đào Thế Tuấn (1997): “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”. + Theo tác giả Nguyễn Sinh Cúc (2001): “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”. Qua các khái niệm trên về hộ nông dân cho thấy, hộ nông dân có các đặc trưng cơ bản sau: + Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông.
Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các mức độ khác nhau. 7 + Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân. Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước.
Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay. + Hộ nông dân miền núi có những điều kiện khác biệt hơn so với hộ nông dân ở miền xuôi, đó là: địa hình thường là đồi núi, bị chia cắt phức tạp, có ít diện tích đất bằng phẳng để sản xuất nông nghiệp; cơ sở vật chất còn nghèo nàn, giao thông đi lại khó khăn; khả năng tiếp cận thị trường kém hơn so với miền xuôi. - Khái niệm Kinh tế hộ nông dân + Theo tác giả Vũ Tuấn Anh (1997): “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông - lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động, tiền vốn của gia đình mình là chính”. + Theo tác giả Nguyễn Văn Huân (1999): “Kinh tế nông hộ là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản”.
Qua các khái niệm có thể hiểu kinh tế hộ nông dân như sau: Kinh tế hộ nông dân là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định. Sự tồn tại của kinh tế hộ nông dân chủ 8 yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất đai và tài nguyên khác nhằm phát triển sản xuất, thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu chính đáng. Đặc điểm của kinh tế hộ nông dân - Kinh tế hộ nông dân không có tư cách pháp nhân. Theo Điều 84 Bộ luật Dân sự quy định một tổ chức có tư cách pháp nhân phải đủ 04 điều kiện: (1) Thành lập hợp pháp; (2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (3) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; (4) Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Do kinh tế hộ nông dân không đủ điều kiện về tổ chức và tài sản nên kinh tế hộ nông dân không phải là pháp nhân. - Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh doanh có quy mô nhỏ. Theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 thì kinh tế hộ chỉ được sử dụng tối đa không vượt quá 10 lao động và chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, do đó xét về quy định của pháp luật hộ kinh doanh thường có quy mô nhỏ, vốn đầu tư ít. Sản xuất của kinh tế hộ nông dân còn mang nặng tính tự cung tự cấp, hướng tới mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ là chủ yếu.
- Tính bền vững của kinh tế hộ nông dân không cao. Do đặc thù hộ nông dân sản xuất kinh doanh có quy mô nhỏ, thiếu vốn, ngành nghề kinh doanh thường không ổn định nên trong quá trình kinh doanh dễ bị chấm dứt hoạt động, do đó tính bền vững của kinh tế hộ nông dân là không cao. - Trong kinh tế hộ nông dân, không phân biệt được giữa lao động của chủ hộ với người lao động làm thuê. Trong kinh tế hộ nông dân, chủ hộ vừa quản lý vừa kiêm luôn công việc của người lao động.
Do đó, rất khó phân biệt lao động nào là lao động của chủ hộ và lao động làm thuê. 9 - Kinh tế hộ nông dân được hình thành theo một cách thức tổ chức riêng trong phạm vi gia đình. Các thành viên trong hộ cùng có chung sở hữu các tài sản cũng như kết quả kinh doanh của họ. - Kinh tế hộ gia đình tồn tại chủ yếu ở nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản.
Một bộ phận khác có hoạt động phi nông nghiệp ở mức độ khác nhau. - Quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công và công cụ truyền thống, do đó năng suất lao động thấp. Do vậy, tích lũy của hộ nông dân chủ yếu chỉ dựa vào lao động gia đình là chính. - Trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ của chủ hộ rất hạn chế, chủ yếu là theo kinh nghiệm từ đời trước truyền lại cho đời sau.
Vì vậy, nhận thức của chủ hộ về luật pháp, về kinh doanh, cũng như về kinh tế thị trường rất hạn chế (Nguyễn Văn Huân, 1993). Phân loại kinh tế hộ nông dân - Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động: + Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp, không có phản ứng với thị trường. Loại hộ nông dân này có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình. Để có đủ sản phẩm, lao động trong nông hộ phải hoạt động cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp tự túc cho sinh hoạt, sự hoạt động của họ phụ thuộc vào: Khả năng mở rộng diện tích đất đai.
Có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập. Có thị trường sản phẩm để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình. + Hộ nông dân sản xuất hàng hóa chủ yếu: loại hộ nông dân này có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị trường vốn, ruộng đất, lao động. - Theo tính chất của ngành sản xuất: + Hộ thuần nông: là hộ hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp.
Nguồn thu nhập chủ yếu của các hộ thuần nông là 10 từ nghề nông.