Tổng quan nghiên cứu

Vùng Quản Lộ - Phụng Hiệp nằm trong quy hoạch tổng thể của dự án Ngọt hóa bán đảo Cà Mau, sở hữu diện tích tự nhiên và đất sản xuất nông nghiệp rộng lớn trên 300.000 ha. Phạm vi địa lý của hệ thống trải dài qua 5 tỉnh trọng điểm khu vực Tây Nam Bộ gồm Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Hậu Giang. Mặc dù đã được đầu tư xây dựng hàng chục năm với hơn 1.000 km kênh trục loại lớn cùng hàng trăm cống phân ranh, hệ thống thủy lợi vùng Quản Lộ - Phụng Hiệp hiện vẫn trong tình trạng chưa khép kín hoàn toàn.

Đặc điểm thủy lợi còn hở kết hợp với sự suy giảm dòng chảy thượng nguồn sông Mê Kông và biến đổi khí hậu toàn cầu đã tạo ra xung đột gay gắt giữa các mô hình sản xuất. Vấn đề nổi cộm nhất là hiện tượng xâm nhập mặn lấn sâu vào vùng chuyên canh lúa thuộc huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, trong khi các vùng nuôi trồng thủy sản tại huyện Hồng Dân và huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu lại rơi vào cảnh thiếu hụt nguồn nước mặn đạt chuẩn.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xây dựng, tính toán và đề xuất phương án vận hành tối ưu hệ thống công trình thủy lợi Quản Lộ - Phụng Hiệp nhằm điều tiết nguồn nước hợp lý. Đề tài tập trung giải quyết bài toán kép: chủ động cấp đủ nước mặn có nồng độ trên 7 g/l cho vùng nuôi tôm nước lợ, đồng thời kiểm soát nghiêm ngặt ranh mặn để bảo vệ hơn 100.000 ha vùng chuyên canh lúa ngọt. Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu thủy văn mùa khô giai đoạn 2012 - 2015 để mô phỏng, mang lại giá trị thực tiễn to lớn trong việc nâng cao hiệu quả khai thác công trình thủy lợi và giảm thiểu thiệt hại kinh tế hàng tỷ đồng mỗi năm cho nông dân địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết dòng chảy không ổn định trong kênh hở và lý thuyết lan truyền chất để mô phỏng diễn biến thủy lực và xâm nhập mặn. Nền tảng cốt lõi là hệ phương trình Saint-Venant một chiều, bao gồm:

Phương trình liên tục biểu diễn định luật bảo toàn khối lượng: $$\frac{\partial Q}{\partial x} + \frac{\partial A}{\partial t} = q$$

Phương trình động lượng biểu diễn định luật bảo toàn động lượng: $$\frac{\partial Q}{\partial t} + \frac{\partial}{\partial x}\left(\frac{\alpha Q^2}{A}\right) + gA\frac{\partial h}{\partial x} + \frac{gQ|Q|}{C^2AR} = 0$$

Trong các phương trình trên, $Q$ là lưu lượng dòng chảy qua mặt cắt, $A$ là diện tích mặt cắt ướt, $h$ là cao trình mực nước, $B$ là chiều rộng mặt nước, $q$ là lưu lượng nhập lưu dọc đường, $g = 9,81\text{ m/s}^2$ là gia tốc trọng trường, $R$ là bán kính thủy lực, $n$ là hệ số nhám Manning và $C$ là hệ số Chezy được xác định theo công thức $C = \frac{1}{n}R^{1/6}$.

Bên cạnh mô hình thủy lực, quá trình lan truyền mặn được tính toán dựa trên phương trình vận tải khuếch tán một chiều kết hợp các khái niệm then chốt như hệ số khuếch tán phân tán dòng chảy, nồng độ mặn giới hạn cho lúa dưới 1 g/l và ngưỡng độ mặn phát triển của tôm nước lợ từ 7 g/l trở lên. Hệ phương trình được giải bằng thuật toán sai phân ẩn 6 điểm Abbott-Ionescu trên lưới điểm mực nước $h$ và lưu lượng $Q$ xen kẽ, đảm bảo tính ổn định cao với hệ số Courant $Cr$ đạt từ 10 đến 20.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê kết hợp kế thừa tài liệu địa hình, thủy văn từ Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam và Viện Kỹ thuật Biển. Công cụ trung tâm được lựa chọn là bộ phần mềm MIKE 11 do Viện Thủy lực Đan Mạch phát triển, với việc tích hợp chặt chẽ giữa mô-đun thủy lực HD và mô-đun lan truyền chất AD.

Phạm vi mô hình bao trùm toàn bộ mạng lưới sông kênh bán đảo Cà Mau với hơn 80 tuyến kênh cấp 1 dài khoảng 1.000 km, 500 tuyến kênh cấp 2 dài 3.000 km và 155 công trình cống điều tiết. Dữ liệu biên đầu vào gồm 44 biên mực nước (1 biên lưu vực sông Hậu tại trạm Long Xuyên và 43 biên triều tại các cửa sông lớn như Bến Trại, Gành Hào, Sông Đốc, Rạch Giá) cùng 43 biên mặn thực đo.

Lý do lựa chọn MIKE 11 thay vì các mô hình khác như SOBEK, VRSAP, DELTA, HEC-RAS hay Telemac 2D/3D là vì MIKE 11 có tốc độ xử lý nhanh, khả năng hội tụ ổn định đối với mạng lưới kênh phức tạp chịu tác động của hai chế độ triều đối lập: bán nhật triều Biển Đông biên độ 3,0 - 4,0 m và nhật triều Biển Tây biên độ 0,8 - 1,2 m. Cỡ mẫu thực nghiệm bao gồm chuỗi quan trắc liên tục vào mùa khô năm 2012 phục vụ hiệu chỉnh mô hình và mùa khô năm 2015 với hệ thống trạm đo bổ sung chi tiết tại 74 cống chính để kiểm định độ tin cậy.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô phỏng trên mô hình MIKE 11 đã chỉ ra những đặc trưng thủy lực và diễn biến độ mặn rõ nét trong hệ thống Quản Lộ - Phụng Hiệp:

Kết quả hiệu chỉnh mùa khô năm 2012 và kiểm định mùa khô năm 2015 cho thấy mô hình đạt độ chính xác rất cao. Sai số mực nước đỉnh triều và chân triều tại các trạm Cần Thơ, Vị Thanh, Phước Long, Phụng Hiệp dao động dưới 5% đến 8%, độ trễ pha triều không quá 15 phút. Lưu lượng thực đo và tính toán tại các cống kiểm soát trọng điểm như Giá Rai, Hộ Phòng, Nọc Nạng, Sư Son, Cây Gừa, Láng Trâm, Tắc Vân có hệ số tương quan đạt trên 0,85.

Đánh giá hiện trạng năm 2012 cho thấy sự mất cân đối nghiêm trọng trong phân phối mặn. Vào tháng 2, thời điểm lấy nước phục vụ vụ tôm xuân hè, khu vực nuôi trồng thủy sản xã Lộc Ninh và huyện Hồng Dân chỉ có khoảng 10 đến 14 ngày duy trì được độ mặn từ 7 g/l trở lên. Ngược lại, vào tháng 4, mặn từ Biển Đông theo kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp xâm nhập sâu vượt qua ranh giới hành chính, làm độ mặn tại Ngã Năm vọt lên mức 2,5 - 4,0 g/l, vượt ngưỡng an toàn cho cây lúa trên 200%.

Phương án vận hành tối ưu mang mã hiệu D-Opt đã giải quyết triệt để mâu thuẫn này. Bằng cách điều tiết mở linh hoạt 2 chiều tại cụm cống Giá Rai, Hộ Phòng, Láng Trâm vào các kỳ triều cường tháng 2 kết hợp đóng các cống ngăn mặn nội đồng, số ngày có độ mặn lớn hơn hoặc bằng 7 g/l tại điểm A5 trên kênh Ngàn Dừa đã tăng lên hơn 26 ngày, tăng 48% so với phương án vận hành hiện trạng. Trong khi đó, việc đóng khống chế cống phân ranh vào tháng 4 đã giữ cho độ mặn tại trung tâm thị xã Ngã Năm luôn duy trì ở mức an toàn dưới 1,0 g/l suốt mùa kiệt.

Khả năng tiêu rút mặn được kiểm chứng xuất sắc trong bài toán tiêu úng và xả mặn. Khi mở đồng loạt các cống tiêu thoát hướng ra Biển Tây và Biển Đông trong thời kỳ chân triều, nồng độ mặn tại điểm nút giao thông thủy Ngã 5 đã giảm mạnh từ 4,2 g/l xuống dưới 1,0 g/l chỉ sau 48 giờ vận hành liên tục.

Thảo luận kết quả

Diễn biến độ mặn trong hệ thống chịu sự chi phối tổng hợp của lực đẩy triều Biển Đông, sự suy giảm dòng kiệt từ sông Hậu và quy trình đóng mở các cống kiểm soát. Các phát hiện này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Mohamed Mahgoub và Reinhard Hinkelmann (2014) về động lực học lan truyền mặn vùng cửa sông, chứng minh rằng việc điều tiết cửa van theo quy luật thủy triều có thể thay đổi hoàn toàn hình thái lưỡi mặn trong nội đồng.

Khi phân tích dữ liệu qua biểu đồ đường quá trình độ mặn theo thời gian tại điểm A5 kênh Ngàn Dừa và bảng so sánh diện tích nhiễm mặn toàn vùng, có thể thấy rõ sự khác biệt mang tính bước ngoặt giữa phương thức vận hành đóng mở tự phát và quy trình vận hành khoa học D-Opt. Sự phân hóa ranh giới mặn ngọt rõ rệt trên bản đồ đẳng mặn giúp bảo tồn nguyên vẹn 100% diện tích lúa hè thu tại Sóc Trăng mà không làm gián đoạn nguồn cấp mặn của hơn 40.000 ha đầm tôm tại Bạc Liêu.

Đề xuất và khuyến nghị

Để đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng thực tế một cách hiệu quả, hệ thống giải pháp kỹ thuật và quản lý cần được triển khai đồng bộ:

Thứ nhất, ban hành quy chế phối hợp vận hành liên tỉnh cho 74 công trình cống lớn dọc tuyến phân ranh mặn ngọt giữa các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn của Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi các địa phương cần áp dụng ngay lịch vận hành tối ưu D-Opt, đảm bảo mở lấy mặn vào 12 đến 15 ngày triều cường mỗi tháng trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3 và đóng kín toàn bộ hệ thống ngăn mặn từ tháng 4 đến tháng 6.

Thứ hai, đầu tư nâng cấp hệ thống giám sát tự động SCADA tại 15 điểm đo mặn và mực nước chiến lược như Ninh Quới, Ngã Năm, Phước Long, Hồng Dân, Hộ Phòng. Mục tiêu là truyền dữ liệu thời gian thực với tần suất 10 phút một lần về trung tâm điều hành, giúp giảm thời gian phản ứng đóng mở cống xuống dưới 30 phút khi phát hiện sự cố xâm nhập mặn bất thường.

Thứ ba, hoàn thiện việc nạo vét hơn 80 tuyến kênh cấp 1 và cấp 2 thuộc vùng đệm huyện Hồng Dân để hạ thấp đáy kênh thêm 0,5 đến 0,8 m. Giải pháp này giúp gia tăng dung tích chứa và lưu lượng chuyển mặn từ kênh trục Quản Lộ - Phụng Hiệp vào sâu nội đồng thêm 20% đến 25%.

Thứ tư, tái cơ cấu mô hình sản xuất nông nghiệp vùng giáp ranh theo hướng thích ứng biến đổi khí hậu. Khuyến khích chuyển đổi khoảng 15.000 ha đất trồng lúa kém hiệu quả thường xuyên bị đe dọa bởi nước mặn tại phía Nam kênh Quản Lộ sang mô hình xen canh lúa - tôm thông minh, vừa tối ưu hóa nguồn nước vừa gia tăng giá trị kinh tế trên mỗi hecta đất canh tác.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị tham chiếu thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Các cơ quan quản lý nhà nước như Tổng cục Thủy lợi, Chi cục Thủy lợi và Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là tài liệu căn bản để xây dựng quy trình vận hành hệ thống cống phân ranh liên tỉnh và quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Các kỹ sư, chuyên gia tư vấn tại các viện nghiên cứu chuyên ngành như Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam, Viện Kỹ thuật Biển. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực đo phong phú cùng bộ thông số mô hình MIKE 11 đã được hiệu chỉnh chính xác.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Kỹ thuật Tài nguyên nước, Thủy văn học, Kỹ thuật Công trình Thủy và Quản lý Môi trường. Luận văn là hình mẫu trực quan về phương pháp luận ứng dụng mô hình toán thủy lực giải quyết các bài toán xung đột tài nguyên nước.

Các hợp tác xã nông nghiệp và doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản quy mô lớn tại vùng Quản Lộ - Phụng Hiệp. Báo cáo giúp các đơn vị nắm bắt chính xác lịch mùa vụ cấp nước mặn và ngọt để chủ động kế hoạch xuống giống và thu hoạch an toàn.

Câu hỏi thường gặp

Vấn đề cốt lõi mà luận văn giải quyết trong hệ thống Quản Lộ - Phụng Hiệp là gì? Luận văn tập trung xử lý xung đột gay gắt giữa nhu cầu giữ ngọt để trồng lúa tại Sóc Trăng và nhu cầu lấy nước mặn nuôi tôm tại Bạc Liêu. Hệ thống thủy lợi chưa khép kín khiến mặn xâm nhập phá hoại lúa ở Ngã Năm trong khi vùng Hồng Dân lại thiếu mặn trầm trọng vào mùa khô.

Tại sao nghiên cứu lại chọn mô hình MIKE 11 thay vì các mô hình thủy lực 2D hoặc 3D? MIKE 11 là mô hình 1 chiều chuyên dụng có tốc độ giải ma trận nhanh và độ ổn định cao trên mạng lưới sông kênh dày đặc hơn 4.000 km. Trong điều kiện nghiên cứu mùa khô khi dòng chảy chủ yếu diễn ra trong lòng kênh, mô hình 1D Abbott-Ionescu cung cấp độ chính xác tương đương mô hình 2D nhưng tiết kiệm đáng kể thời gian tính toán.

Ý nghĩa của ngưỡng độ mặn 7 g/l được sử dụng trong các kịch bản tính toán là gì? Ngưỡng 7 g/l (tương đương 7 phần nghìn) là nồng độ muối tối thiểu để tôm sú và tôm thẻ chân trắng phát triển khỏe mạnh, phòng ngừa dịch bệnh. Nghiên cứu lấy mốc này làm tiêu chí định lượng để đánh giá năng lực cấp mặn của các phương án vận hành cống phục vụ vùng nuôi thủy sản.

Phương án vận hành tối ưu D-Opt mang lại sự vượt trội như thế nào so với hiện trạng? Phương án D-Opt giúp tăng số ngày duy trì mặn trên 7 g/l tại vùng nuôi tôm Hồng Dân từ 12 ngày lên hơn 26 ngày trong tháng 2, đồng thời kiểm soát độ mặn vùng lúa Ngã Năm luôn dưới 1 g/l trong tháng 4. Ngoài ra, phương án còn cho phép rút mặn toàn diện chỉ trong 2 ngày mở cống xả.

Dữ liệu mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định dựa trên những mốc thời gian cụ thể nào? Mô hình sử dụng chuỗi dữ liệu thủy văn, mực nước và độ mặn thực đo mùa khô năm 2012 để hiệu chỉnh các hệ số nhám và phân tán. Sau đó, mô hình được kiểm định độc lập với bộ số liệu đo đạc bổ sung chi tiết tại 74 cống lớn trong mùa khô hạn mặn lịch sử năm 2015.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện bài toán điều tiết tài nguyên nước phức tạp tại bán đảo Cà Mau thông qua 5 đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật:

  • Thiết lập thành công mô hình thủy lực và lan truyền mặn MIKE 11 chi tiết cho mạng lưới hơn 4.000 km sông kênh và 155 cống vùng Quản Lộ - Phụng Hiệp.
  • Định lượng chính xác mức độ sai số và tương quan dòng chảy với dữ liệu thực đo đạt trên 85% qua hai mùa khô 2012 và 2015.
  • Xác định nguyên nhân gốc rễ gây ra tình trạng xâm nhập mặn tại Ngã Năm và thiếu mặn tại Hồng Dân là do cơ chế vận hành cống cục bộ, thiếu phối hợp liên vùng.
  • Xây dựng thành công phương án vận hành tối ưu D-Opt, giúp gia tăng 48% thời gian cấp mặn cho thủy sản và bảo vệ an toàn 100% diện tích lúa mùa khô.
  • Đề xuất quy trình tiêu rút mặn nhanh chóng trong 48 giờ, tạo tiền đề vững chắc cho việc quản lý tài nguyên nước thông minh.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2019 đến 2025, các nghiên cứu mở rộng cần tích hợp thêm kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng 30 - 50 cm và sự phát triển của các bậc thang thủy điện thượng nguồn Mê Kông để hoàn thiện quy trình điều tiết. Các cơ quan quản lý và địa phương cần khẩn trương áp dụng ngay khung vận hành D-Opt vào thực tế sản xuất nhằm bảo vệ sinh kế bền vững cho hàng triệu người dân Đồng bằng sông Cửu Long.