Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Căn cứ Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ [13], Công văn số 664/LĐTBXH-TCDN ngày 09/3/2010 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch triển Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 và Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 10/6/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân huyện Gò Công Đông xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn huyện Gò Công Đông. Trong 02 năm, từ năm 2010 đến năm 2012 phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện đã tiến hành ký hợp đồng đào tạo giữa Trung tâm Day nghề với Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư huyện, ký liên tịch với Ban chấp hành Hội nông dân huyện về việc phối hợp tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn, sau đó hợp bàn kế hoạch mở lớp và triển khai cho các xã, thị trấn về các danh mục ngành nghề đào tạo, thời gian khai giảng, số lượng học viên, thủ tục đăng ký tham gia học và chế độ thực hiện kinh phí theo quy định tại công văn số 928/LN-SLĐTBXH-STC ngày 27/5/2010 của sở Lao động Thương binh và Xã hội với sở Tài chính để các xã, thị trấn tiến hành triển khai tuyên truyền, vận động người lao động tham gia học nghề. Trong giai đoạn 2010-2012, huyện Gò Công Đông đã tổ chức được 52 lớp dạy nghề cho 1524 lao động nông thôn, trong đó có 791 lao động thuộc hộ nghèo.
Ngành nghề đào tạo các nghề phi nông nghiệp như: may công nghiệp, điện dân dụng, khảm ốc xà cừ, sửa chữa máy nổ, đan lát (lục bình, cói),…các nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp gồm có trồng rau an toàn và nấm các loại, kỹ thuật nuôi trồng thuỷ hải sản, kỹ thuật chăn nuôi và phòng trị bệnh cho heo, bò, dê, nuôi trùn quế, kỹ thuật trồng lúa nhân giống lúa cao sản… chuyển đổi mạnh mẽ công tác đào tạo 6 nghề cho lao động nông thôn từ đào tạo theo năng lực sang đào tạo theo nhu cầu, gắn đào tạo nghề với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của từng địa bàn, khu vực, ngành nghề và quy mô cụ thể. Đào tạo nghề phải theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế. Nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện đạt 32% năm 2010, 43% vào năm 2015 và 52% vào năm 2020. Liên quan đến vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 thì có các đề tài nghiên cứu sau: luận văn thạc sỹ của tác giả Vũ Thị Minh Hoà với đề tài: “Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Đồng Nai”, tác giả đã nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài, khảo sát thực trạng đào tạo nghề, khảo sát nhu cầu học nghề, tình hình việc làm và những đóng góp cho xã hội sau khi được đào tạo từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn và lấy ý kiến chuyên gia nhằm đánh giá tính khả thi của đề tài.
Đề tài nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Trung về “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Cờ Đỏ thành phố Cần Thơ”, tác giả đã nghiên cứu các khái niệm và cơ sở lí luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, mô hình dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn từ đó khảo sát và phân tích thực trạng về hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Cờ Đỏ để từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Cờ Đỏ. Tuy nhiên, hiện nay tại huyện Gò Công Đông vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về vấn đề nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn cũng như vận dụng vào thực tiễn hiện nay. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Chất lượng và chất lượng đào tạo ● Chất lượng Theo tác giả Nguyễn Thị Hồng Thuỷ [30], “chất lượng là sự phù hợp với mục đích”, theo Ball (1985) và INQAAHE (Internationl Netwok for Quanlity Assurance Agencies) 7 “Chất lượng gắn liền với giá trị gia tăng” theo Mc Clain (1989) Trong sản xuất, chất lượng của một sản phẩm được đánh giá qua các mức độ đạt các tiêu chuẩn chất lượng đề ra của sản phẩm.
Trong đào tạo, chất lượng đào tạo được đánh giá qua các mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo. [30] Chất lượng được định nghĩa như mức độ mà sản phẩm hoặc dịch vụ của nhà trường, tổ chức đáp ứng mong đợi của khách hàng. Ý tưởng chính của khái nệm chất lượng không coi sự thành công của nhà trường chỉ thông qua các chỉ số đầu ra mà nó còn quan tâm đến các chỉ số đầu vào và các chỉ số về quá trình. Theo tác giả Nguyễn Đức Chính, chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối, động, đa chiều và với những người ở cương vị khác nhau có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét nó.
Ví dụ, đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên thì ưu tiên của khái niệm chất lượng phải là quá trình đào tạo, là cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quá trình giảng dạy học tập. Còn đối với những người sử dụng lao động, ưu tiên về chất lượng của họ lại là đầu ra, tức là trình độ - năng lực - kiến thức của sinh viên khi ra trường. [4] ● Chất lượng đào tạo Trong kỷ yếu hội thảo Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp Việt Nam, theo hai tác giả Lê Đức Ngọc và Lâm Quang Thiệp - Đại học quốc gia Hà Nội thì “Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo” [11], [28] Theo tác giả Trần Khánh Đức - Viện nghiên cứu phát triển giáo dục cho rằng “Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể” [7] Trong lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp, chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là “con người lao động” cụ thể hiểu là kết quả hay còn gọi là đầu ra của quá trình đào tạo và được thể hiện ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao 8 động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong hệ thống đào tạo. Chất lượng đào tạo trước hết phải là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp.
Quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của thị trường như quan hệ cung - cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và bố trí công việc của nhà nước và người sử dụng lao động. Do đó khả năng thích ứng cũng phản ảnh cả về hiệu quả đào tạo ngoài xã hội và thị trường lao động được thể hiện qua mối quan hệ giữa mục tiêu và chất lượng đào tạo như hình 1.1: Quá trình đào tạo Mục tiêu đào tạo Chất lượng đào tạo Đặc trưng,giá trị nhân cách, Kiến thức xã hội, nghề nghiệp Giá trị sức lao động Năng lực hành nghề Trình độ chuyên môn nghề nghiệp (kiến thức kỹ năng) Năng lực thích ứng với xã hội và thị trường lao động NGƯỜI TỐT NGHIỆP Năng lực phát triển cá nhân, nghề nghiệp Kỹ năng Thái độ (Theo chương trình đào tạo) Hình 1.1: Quan hệ giữa mục tiêu và chất lượng đào tạo [6] Chất lượng đào tạo là sự đáp ứng nhu cầu của thị trường, của khách hàng, được đảm bảo bằng chất lượng quá trình từ đầu vào, đến quá trình dạy học và đầu ra – sản phẩm đào tạo. 9 MÔI TRƯỜNG (Nhà trường, xã hội, kinh doanh, sản xuất, chính sách nhà nước.) ĐẦU VÀO QUÁ TRÌNH ĐẦU RA (Học viên học nghề) (Chương trình đào tạo) (Học viên tốt nghiệp) Phản hồi (Sự thỏa mãn nghề nghiệp, năng lực đạt được, đóng góp cho xã hội) Hình 1.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo [3] 1. Hiệu quả và hiệu quả đào tạo ● Hiệu quả Hiệu quả thường được định nghĩa như mức độ đạt được các mục tiêu đặt ra.
Nói đến mục tiêu thường ta luôn đề cập các chỉ số cụ thể về số lượng, thời gian và nguồn lực. Các chỉ số về hiệu quả có 2 đặc trưng cơ bản: - Tính toán dựa trên cơ sở các chỉ số về số lượng. - Thiên về các chỉ số đầu ra. “Hiệu quả là kết quả mong muốn mà chúng ta chờ đợi và hướng tới.
Hiệu quả giáo dục là kết quả mà giáo dục mang lại đáp ứng những yêu cầu về chất lượng, số lượng, cơ cấu đào tạo mà xã hội, nền kinh tế và sự phát triển đất nước đòi hỏi” [1] Như vây, hiệu quả được hiểu là mối quan hệ giữa chi phí đầu vào với kết quả đầu ra của hàng hoá, dịch vụ. Hiệu quả là sự so sánh kết quả thu được với những chi phí phải bỏ ra. Hiệu quả kinh tế là hiệu số giữa tổng chi phí đầu vào (nhân lực, tài chính, nguyên vật liệu, khấu hao phương tiện, cơ sở vật chất…) với tổng giá trị thu được ở đầu ra. Hiệu quả kinh tế = Tổng giá trị kinh tế thu được – Tổng chi phí đầu vào Hiệu quả xã hội có thể đánh giá qua so sánh tổng chi phí đầu tư cho giải quyết những vấn đề xã hội cụ thể với mức độ đóng góp và phạm vi tác động vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau và đạt được lợi ích xã hội khác nhau.