Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 1. Hiệu quả Hiệu quả là khái niệm vừa rộng, lại vừa sâu, được sử dụng nhiều trong thực tiễn đời sống xã hội, trong kinh tế và quản trị kinh doanh.
Hiệu quả là sự liên quan giữa nguồn lực đầu vào khan hiếm (như lao động, vốn, máy móc,…) với kết quả trung gian hay kết quả cuối cùng. Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội. Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được (outputs) so với các biến số đầu vào (inputs) đã được sử dụng để tạo ra những kết quả đầu ra đó. Sự hiệu quả được định nghĩa là đạt được một kết quả giống nhau nhưng sử dụng ít thời gian, công sức và nguồn lực nhất.
Trong đời sống xã hội, theo quan niệm thật đơn giản thìhiệu quả được hiểu là kết quả thực mà việc làm mang lại. Do đó trong phạm vi luận văn này, hiệu quả của chương trình 135 được hiểu là những kết quả thực mà chương trình 135 đã mang lại từ những đầu tư (vốn, vật chất, kỹ thuật,…). Những kết quả này có thể bao gồm cả những tác động, hiệu quả của chương trình 135 đã đem lại từ những đầu tư của chương trình này. Hiệu quả của chương trình 135 Chương trình 135 đã xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu quan trọng, góp phần làm thay đổi bộ mặt xã hội nông thôn vùng dân tộc, góp phần tích cực trong công tác phát triển văn hoá, giáo dục và y tế, giao lưu trao đổi hàng hoá giữa các xã trong vùng, tạo điều kiện phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn; Các tuyến đường giao thông liên xã, liên bản được mở rộng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của nhân dân, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội; hệ thống thuỷ lợi được xây dựng đã nâng cao năng lực tưới, mở rộng diện tích đất sản xuất giúp các xã đặc biệt khó khăn ổn định lương thực; tăng số người được sử dụng điện; số trường, lớp học được xây dựng kiên cố với quy mô nhà cấp III, cấp IV và trang thiết 6 bị phục vụ cho giáo viên và học sinh được đầu tư tương đối đầy đủ, nhanh chóng khắc phục được tình trạng thiếu lớp học, góp phần tích cực tăng tỷ lệ các em trong độ tuổi đến trường đi học; Việc thực hiện chương trình 135 kết hợp với việc lồng ghép các chương trình, dự án khác trên địa bàn đã góp phần xoá đói, giảm nghèo, thực hiện dự án hỗ trợ phát triển sản xuất đã giúp cho một số hộ đồng bào dân tộc có tập quán sản xuất nương rẫy, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, canh tác một vụ nay biết làm ruộng nước, thâm canh tăng vụ, biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong canh tác, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn công nghiệp; đưa giống cây trồng, vật nuôi mới, năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất thay cho giống địa phương, tăng thêm thu nhập cho hộ gia đình, tạo động lực để vươn lên thoát nghèo.
Chương trình 135 Chương trình 135 là một trong những chương trình đã thu hút sự quan tâm của cả cộng đồng và toàn xã hội. Với nguồn ngân sách mà Trung ương cũng như ngân sách của từng địa phương dành cho chương trình, tổng kinh phí giai đoạn I (1998- 2005) đã chi khoảng 10.000 tỷ đồng, và giai đoạn II (2006-2010) trên 14.000 tỷ đồng đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt của các thôn, xã được thụ hưởng chương trình với 1.149 thôn, buôn, làng, bản, xóm ấp đặc biệt khó khăn thuộc các xã khu vực II thuộc 45 tỉnh, thành được đưa vào phạm vi của Chương trình 135; giai đoạn (2011-2015) chương trình 135 đầu tư cho 2.509 thôn, bản đặc biệt khó khăn với tổng số vốn từ ngân sách nhà nước là trên 15. Đời sống người dân dần dần được cải thiện với thu nhập bình quân đầu người ở các xã trong Chương trình đạt 4,2 triệu đồng/người/năm(so với mục tiêu của CT đến hết năm 2010 đạt trên 70% số hộ có thu nhập bình quân đầu người trên 3,5 triệu đồng/ người/ năm). Chương trình 135 là một trong những chương trình đã thu hút sự quan tâm của cả cộng đồng và toàn xã hội.
Với nguồn ngân sách mà Trung ương dành cho Chương trình trong giai đoạn 2011 - 2015 huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái được đầu tư hỗ trợ với tổng kinh phí là: 132.970 triệu đồng đầu tư cho hỗ trợ phát triển sản xuất; đào tạo cán bộ xã, thôn bản; duy tu bảo dưỡng công trình sau đầu tư và chủ 7 yếu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học,. cho các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn, trong đó: + Dự án phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu 104.519 triệu đồng (Trong đó XDCSHT xã 71.719 triệu; CSHT thôn bản 32. + Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất 19. + Dự án đào tạo nâng cao năng lực cán bộ xã thôn bản và cộng đồng 1.
+ Hỗ trợ duy tu bảo dưỡng CT sau đầu tư 5.135 triệu đồng + Hỗ trợ của các tổ chức quốc tế cho chương trình 135 (Chính phủ Ai len) 2.500 triệu đồng Đã thực hiện đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng tổng số 166 công trình trên địa bàn các xã, thôn bản Đặc biệt khó khăn. Trong đó 40 công trình tại các xã ĐBKK; 102 hạng mục công trình nhỏ thuộc các xã có thôn, bản ĐBKK và duy tu bảo dưỡng, sửa chữa được 14 công trình. Những kết quả đạt được đã cho thấy những hiệu quả mà Chương trình đã mang lại đối với đời sống đối với các hộ nghèo ở những vùng khó khăn. - Giới thiệu về chương trình 135 giai đoạn 2016-2020: Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã ra Nghị quyết số 100/2015/QH13 về phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020.
Theo đó, từ 16 chương trình, thì giai đoạn 2016 - 2020, Chương trình mục tiêu quốc gia rút lại còn 2 chương trình (gồm Chương trình xây dựng Nông thôn mới và Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững), trong đó CT135 là một chương trình nằm trong Chương trình giảm nghèo bền vững. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt danh sách 2.275 xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu của 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vào diện đầu tư của chương trình 135 năm giai đoạn 2016-2020. Mục tiêu cụ thể của Chương trình 135 giai đoạn 2016-2020 là góp phần tăng thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo trên địa bàn tới năm 2020 gấp 3,5 lần so với năm 2011, tương đương với 26 triệu đồng/người/năm; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo 4%/năm ở 8 các xã, thôn. Đến năm 2020, cơ bản các xã, thôn, bản có đường giao thông đi lại thuận lợi quanh năm; 100% trung tâm xã, hộ gia đình có điện lưới quốc gia đáp ứng 70% nhu cầu tưới tiêu cho diện tích cây trồng hàng năm; phấn đấu có 30% số xã thuộc chương trình 135 hoàn thành các mục tiêu Chương trình.
Trong đó, ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư 2.240 xã của 44 tỉnh; ngân sách địa phương đầu tư 35 xã của 4 tỉnh/thành phố: Quảng Ninh, Hà Nội, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu. Các tỉnh có nhiều xã khó khăn được đưa vào diện đầu tư của Chương trình 135 là Cao Bằng 148 xã, Hà Giang 141 xã; Lào Cai 113 xã; Thanh Hóa 115 xã; Lạng Sơn 111; Sơn La 102 xã; Điện Biên 98 xã,. Tổng vốn đầu tư 21. Nguồn vốn Chương trình sẽ hỗ trợ người dân về giống cây con phát triển sản xuất, nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở và người dân về quản lý thực hiện Chương trình và các chính sách dân tộc, xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu.
Mục tiêu nhằm tăng thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo đến năm 2020 gấp 3 đến 5 lần so với năm 2011, tương đương 26 triệu đồng/người/ năm, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo 4% mỗi năm, phấn đấu tất cả hộ gia đình có điện lưới quốc gia, đáp ứng 70% nhu cầu tưới tiêu cho diện tích cây trồng hàng năm. Trong giai đoạn 2011-2015 việc phân bổ vốn của chương trình 135 từ ngân sách Trung ương cho các xã đặc biệt khó khăn, xã an toàn khu, xã biên giới các thôn bản đặc biệt khó khăn mang tính cào bằng dẫn đến sự không công bằng giữa các vùng miền có điều kiện, kinh tế xã hội khác nhau. Nguồn vốn từ Trung ương chưa thực sự tập trung đầu tư vào nơi có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất. Vì vậy, rất cần thiết xây dựng các tiêu chí phân bổ vốn để khắc phục những hạn chế đó.
Theo Quyết định số 48/2016/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ, giai đoạn 2016 - 2020 sẽ có 4 tiêu chí để xác định việc phân bổ vốn, gồm: (1) Tiêu chí dân số và dân tộc thiểu số; (2) Tiêu chí tỷ lệ hộ nghèo và quy mô hộ nghèo; (3) Tiêu chí diện tích đất tự nhiên; (4) Tiêu chí về đơn vị hành chính và các huyện có xã biên giới Đối với hợp phần hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, đa số ý kiến của các đại biểu đề nghị nên đầu tư nguồn lực cho các công trình bức thiết, đặc biệt là giao thông nông thôn, thủy lợi; đầu tư xây dựng công trình nước sạch, dẫn nước từ giếng, từ bể nước về tới nhà dân; tăng cường sự giám sát của cộng đồng, nhất là đội 9 ngũ người có uy tín đối với các công trình xây dựng; giao cho xã làm chủ đầu tư nhằm nâng cao trách nhiệm của địa phương trong xây dựng, quản lý, sử dụng và duy tu bảo dưỡng công trình. Về hợp phần hỗ trợ phát triển sản xuất, các đại biểu kiến nghị cần tăng cho vay, giảm cho không, như vậy sẽ giúp người dân nâng cao ý thức, trách nhiệm với nguồn vốn và tự ý thức vươn lên; chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người dân; ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp như ứng dụng công nghệ sinh học, tiếp cận các mô hình sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao và nhân rộng trên địa phương, đưa giống tốt, năng suất cao vào sản xuất.