CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DNNVV VÀ CHO VAY DNNVV CỦA NHTM 1.1-Doanh nghiệp nhỏ và vừa và vai trò của chúng trong nền kinh tế Việt Nam 1.Khái niệm Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 quy định : Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế rất phong phú và đa dạng về ngành nghề cũng như quy mô hoạt động. Phạm vi nghiên cứu của luận văn sẽ được tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), mà bên trong nó bao gồm rất nhiều những loại hình doanh nghiệp( DN tư nhân, công ty TNHH…) và có vai trò hết sức quan trọng. Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, thế nào là DNNVV phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng nước, thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế và được quy định theo các ngành nghề khác nhau.
Trên thực tế có một số tiêu thức thường được sử dụng để phân loại DNNVV như: vốn sản xuất, số lao động, doanh thu, lợi nhuận… Quy định về phân loại DNNVV ở nước ta cũng đã nhiều lần thay đổi. Theo quy định mới nhất, Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 06 năm 2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời, DNNVV là cơ sở kinh doanh SV: Nguyễn Quang Hiệu 3 Lớp: CQ46/15.06 Luan van Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn ( tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau : Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Khu vực Số lao động Tổng Số lao Tổng Số lao nguồn vốn động nguồn vốn động Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ Từ trên Từ trên 20 Từ trên nghiệp và thủy xuống đồng trở 10 người tỷ đồng đến 200 người sản xuống đến 200 100 tỷ đồng đến 300 người người Công nghiệp 10 người trở 20 tỷ Từ trên Từ trên 20 Từ trên và xây dựng xuống đồng trở 10 người tỷ đồng đến 200 người xuống đến 200 100 tỷ đồng đến 300 người người Thương mại 10 người trở 10 tỷ Từ trên Từ trên 10 Từ trên và dịch vụ xuống đồng trở 10 người tỷ đồng đến 50 người xuống đến 50 50 tỷ đồng đến 100 người người SV: Nguyễn Quang Hiệu 4 Lớp: CQ46/15.06 Luan van Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp Theo cục phát triển doanh nghiệp-Bộ kế hoạch và đầu tư, cả nước hiện có trên 500.000 DNNVV, chiếm 98% tổng số doanh nghiệp trên cả nước. Như vậy, DNNVV giữ một vai trò quan trọng, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước với việc hàng năm đóng góp hơn 40% cho GDP cả nước, tạo ra 50% việc làm mới, 78% mức bán lẻ, 33% giá trị sản lượng công nghiệp. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, DNNVV có vốn đầu tư ban đầu thấp, chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn.
Chúng ta đều biết vốn đầu tư ban đầu của một DNNVV là tương đối thấp. Do các DNNVV thường chọn sản xuất những sản phẩm, mặt hàng có vòng đời ngắn nhằm rút ngắn chu kỳ kinh doanh, mau chóng thu hồi vốn để tái sản xuất. Những mặt hàng,sản phẩm đó thường có chi phí cố định bình quân trên một sản phẩm thấp, điều này cho phép các DNNVV hoạt động hiệu quả với chi phí cố định không cao. Mặt khác, nhiều DNNVV được thành lập trên quan hệ gia đình, bạn bè, người thân, vì thế giá thành lao động thường không cao, cả công nhân và chủ doanh nghiệp chấp nhận hạ thấp lương để đầu tư trang thiết bị, máy móc cho doanh nghiệp.
Thứ hai, khả năng tài chính của DNNVV bị hạn chế Vốn đầu tư ban đầu thấp vừa là lợi thế nhưng cũng là hạn chế của DNNVV. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp nào cũng muốn mở rộng sản xuất, nâng cao sản lượng, song với DNNVV, nhu cầu ấy khó thực hiện. Vì vốn chủ sở hữu ít nên khả năng vay vốn của DNNVV cũng hạn chế. Các DNNVV thường thiếu tài sản đảm bảo cho các khoản vay theo điều kiện của ngân hàng.
Vì vậy, phần lớn các DNNVV luôn trong tình trạng thiếu vốn, khiến cho khả năng thu lợi SV: Nguyễn Quang Hiệu 5 Lớp: CQ46/15.06 Luan van Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp nhuận của doanh nghiệp bị giới hạn ngay cả khi có cơ hội kinh doanh và có yêu cầu mở rộng sản xuất. Thứ ba, DNNVV năng động, nhạy bén, dễ thích nghi với thay đổi của thị trường. Khác với DN lớn, DNNVV thường có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên có phản ứng nhanh nhạy với sự biến đổi của thị trường. Với cơ sở vật chất kĩ thuật không lớn, DNNVV đổi mới linh hoạt hơn, dễ dàng chuyển đổi sản xuất hoặc thu hẹp quy mô mà không gây ra hậu quả nặng nề cho nền kinh tế.
Vì thế, các DNNVV được ví như “thanh giảm sốc” cho nền kinh tế khi có nhiều biến động. Thứ tư, DNNVV thường thiếu thông tin về thị trường, trình độ quản lý còn hạn chế. Các DNNVV thường thiếu thông tin về thị trường đầu vào như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường nguyên vật liệu, thị trường thiết bị công nghệ, thông tin về chế độ chính sách và quy định của Nhà nước dẫn tới việc các doanh nghiệp chưa thực sự nắm bắt được những cơ hội kinh doanh tốt, trình độ hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật chưa cao. Quản lý nội bộ của các DNNVV vẫn còn nhiều yếu kém, chưa chuyên nghiệp và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của các chủ DN.
Phần lớn các DNNVV thiếu chiến lược và kế hoạch kinh doanh dài hạn, triển khai hoạt động với đội ngũ cán bộ nghiệp vụ phần lớn chưa qua đào tạo bài bản. Quản lý tài chính trong các DNNVV còn thiếu minh bạch, số liệu báo cáo chưa phản ánh trung thực tình trạng tài chính của DN, thiếu độ tin cậy. Việc đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác ở một số DN chưa đầy đủ, còn chậm trễ. SV: Nguyễn Quang Hiệu 6 Lớp: CQ46/15.06 Luan van Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp Thứ năm, DNNVV có phạm vi hoạt động rộng khắp, lĩnh vực ngành nghề phong phú và đa dạng, khai thác tối ưu tiềm lực trong nước.
Vốn đầu tư ban đầu không lớn, bộ máy quản trị nhỏ gọn giúp DNNVV dễ dàng hoạt động trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề, trên nhiều địa bàn. Tuy quy mô còn nhỏ, nhưng với số lượng lớn, DNNVV đã tạo thành mạng lưới kinh doanh rộng khắp, có mặt ở mọi nơi, từ thành thị tới nông thôn. Các DNNVV sẵn sàng lấp đầy vào những khe hở thị trường mà doanh nghiệp lớn bỏ ngỏ và sẵn sàng tham gia thế chỗ khi có mảng thị trường được nhường lại. Một điểm mạnh của DNNVV là biết tận dụng nguồn lao động địa phương và các lợi thế về nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất sẵn có cho hoạt động SXKD.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa ● Thứ nhất, DNNVV đóng góp vào tăng trưởng và ổn định nền kinh tế. Trong những năm qua DNNVV có nhiều đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Theo thống kê năm 2011, DNNVV đóng góp khoảng 40% GDP cả nước. Trong điều kiện nền kinh tế biến động, DNNVV có thể linh động chuyển đổi hướng sản xuất, giữ vững vai trò ổn định nền kinh tế.
● Thứ hai, DNNVV tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam là một quốc gia đông dân. Theo thống kê, các DNNVV có thể tận dụng tối ưu thế mạnh của từng vùng địa phương để phát triển hay thu hút được nhiều lao động xã hội: tạo ra việc làm cho rất nhiều thành phần lao động xã hội, khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn và 50% lực lượng lao động trong cả nước. ● Thứ ba, DNNVV góp phần cân bằng thị trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ.
SV: Nguyễn Quang Hiệu 7 Lớp: CQ46/15.06 Luan van Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp DNNVV có tính linh hoạt, nhạy bén với thị trường, phạm vi hoạt động rộng khắp, yêu cầu địa bàn hoạt động không cao. Trong khi đó các doanh nghiệp lớn thường chỉ vận hành được ở những nơi có cơ sở hạ tầng phát triển. Việc các DNNVV phân bổ rộng khắp, đáp ứng nhanh chóng và đầy đủ nhu cầu của thị thường góp phần phát triển cân bằng thị trường. Những ngành nghề, địa bàn, doanh nghiệp lớn không thể vươn tới thì các DNNVV luôn có mặt.
Đặc điểm về bộ máy quản lý nhỏ gọn, lĩnh vực và địa bàn kinh doanh rộng khắp của DNNVV góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ. Có thể nói DNNVV là trụ cột của kinh tế địa phương. ● Thứ tư, DNNVV thu hút nguồn vốn trong dân cư và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội. Bản thân việc thành lập một DNNVV đã đưa một lượng tiền trong dân cư đi vào đầu tư sản xuất.
DNNVV đã tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể dễ dàng huy động vốn từ bạn bè, họ hàng và người thân. Bởi vậy, DNNVV được xem là phương tiện có hiệu quả trong huy động vốn, sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư và biến nó trở thành nguồn vốn phát triển sản xuất khá quan trọng. ● Thứ năm, DNNVV làm cho nền kinh tế năng động hơn. Do DNNVV có cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động đơn giản và gọn nhẹ nên chúng dễ dàng điều chỉnh và dễ thích ứng với sự biến động của thị trường cũng như dễ dàng đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng hơn các doanh nghiệp lớn.
Điều này lý giải sự tồn tại của các DNNVV song song với các doanh nghiệp lớn đồng thời tạo ra sự năng động cho nền kinh tế. SV: Nguyễn Quang Hiệu 8 Lớp: CQ46/15.06 Luan van Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp 1. Hoạt động cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.