Chương 1: Giới thiệu dé tài Nêu lý do hình thành đề tài, các mục tiêu nghiên cứu, phạm vi thực hiện, phương pháp thực hiện, ý nghĩa thực tiễn và bố cục của khóa luận. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trình bày các khái niệm về đổi mới sáng tạo, các yếu tô ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo tham khao từ các tư liệu nghiên cứu trước. Chương 3: Giới thiệu công ty Giới thiệu sơ lược về thông tin công ty, tình hình phát triển, các hoạt động và chính sách cho đối mới sáng tao. Chương 4: Phân tích hiện trạng và đề xuất giải pháp Trình bay về các van dé quản lý đối mới, kết quả phân tích và khảo sát về thực trạng va nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp.
Các giải pháp này được đánh giá tính khả thi cho triển khai thực hiện. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tổng kết các kết quả đạt được, khó khăn trong quá trình nghiên cứu cùng với đó là giới hạn của bài nghiên cứu dé đề xuất phương hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. 19 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYET 2.1 Khái niệm về đổi mới sáng tạo Mặc dù các loại hình đổi mới có những định nghĩa khác nhưng nó làm chồng chéo nhau và các loại hình đổi mới có mức độ khác nhau về tầm quan trọng tùy thuộc vào môi trường tô chức đang hoạt động (Damanpour và Gopalakrishnan, 1998). Điều này làm phức tap thêm các khái niệm đổi mới vì bây giờ quá nhiều định nghĩa khác nhau trong các nghiên cứu khác nhau.
Bang cách lay quan điểm rộng nhất của sự d6i mới chứ không phải là một định nghĩa chính xác và cụ thé, nghiên cứu này cho rằng đổi mới là một quá trình có liên quan đến việc phát sinh, lựa chọn, thực hiện và kết hợp các ý tưởng mới, thực hành hoặc sáng tạo trong tổ chức (Van de Ven và ctg 1989). Các phân loại đôi mới sáng tạo thường gap: Đối mới về công nghệ và đối mới quan trị: Daft (1978) đề xuất đối mới có thé được phân loại như là đối mới công nghệ và đối mới quản trị. Khia cạnh công nghệ dé cập đến các sản phẩm, dịch vu và quy trình sản xuất, là cốt lõi của năng lực công nghệ của một tổ chức. Đối mới quan tri dé cap dén những đôi mới được tạo ra từ việc quản lý và thay đôi của quy trình quản lý và co cau tô chức.
Hai hình thức đổi mới khác nhau về tam quan trọng tùy thuộc vào nhu cầu đối mới của một tổ chức va cau trúc t6 chức là cứng nhắc hay linh hoạt. Đối mới san phẩm và đổi mới quy trình: Đổi mới sản phẩm là tạo các sản phẩm va dịch vụ mới cho thị trường/khách hàng mới hay đáp ứng các thị trường hoặc khách hàng hiện tại. Doi mới quy trình được phản ánh trong việc cải tiến, giới thiệu quy trình sản xuất mới cho các sản phẩm hoặc dich vụ (Knight, 1967; Utterback, 1971). Đối mới triệt để và đối mới gia tăng: đối mới triệt dé đem lại một sự thay đối không thường xuyên nhưng rõ ràng đến các hoạt động cốt lõi của tổ chức.
Đồi mới gia tăng thường là một phan của sự thay đổi nhỏ mà không làm chệch đi nhiều các hoạt động tô chức hiện 20 nay (Dewar va Dutton, 1986; Ettlie et al, 1984). Không có một ranh giới rõ ràng giữa hai loại hình đổi mới này.2 Các yếu tô ảnh hưởng đến đỗi mới sáng tao theo các nghiên cứu trước 2.1 Nghiên cứu của Romijn & Albaladejo (2002) Romijn & Albaladejo (2002) nghiên cứu 33 công ty vừa và nhỏ về điện tử và phần mềm (quy mô trung bình 34 người) ở Anh phát hiện năng lực đối mới sáng tạo của các công ty được đo lường chủ yếu dựa trên năng lực đôi mới sáng tạo sản phẩm vi đây là yếu tô chi phối của sự doi mới trong mẫu nghiên cứu. Năng lực đối mới được định nghĩa là các kỹ năng và kiến thức cần thiết để hấp thụ một cách hiệu quả, thành thạo và cải tiễn công nghệ hiện tại, và để tạo ra những cái mới. Ba thang đo đối mới sản phẩm được sử dụng.
Đầu tiên là xác định công ty đã hoàn thành ít nhất một sản phẩm đổi mới chính trong 3 năm. Sản phẩm chính là sản phẩm gan với chiến lược của công ty. Biến thứ hai là số lượng băng sáng chế công ty có được. Hai chỉ số này thể hiện khả năng sáng tạo của công ty chứ chưa thể hiện sự mới mẻ trong các đối mới.
Yếu tô thứ ba về khả năng đổi mới sản phẩm là chỉ số doi mới của công ty đó dựa trên thông tin định tính về quy mô và ý nghĩa của các kết quả đầu ra từ các sáng tạo của công ty tạo ra trong quá trình 3 năm trước cuộc nghiên cứu. Thông tin này được sử dụng dé xác định một số điểm tương ứng với mức độ doi mới của công ty với giá trị từ 1 đến 5. Nghiên cứu cho biết các yếu tô nội bộ ảnh hưởng bao gồm: (a) trình độ đào tạo và kinh nghiệm làm việc của người sáng lập/quản lý; (b) trình độ chuyên môn của lực lượng lao động: và (c) những nỗ lực liên tục cho việc học hỏi công nghệ mới, chang hạn như R & D chính thức và không chính thức, dao tạo trong công việc chính thức và không chính thức, đầu tư vào mua giấy phép công nghệ. Các nhân tô bên ngoài bao gồm: (a) mức độ chặt chẽ của mối liên kết với các thành viên trong chuỗi giá trị: (b) mức độ gan cận về địa lý giữa các thành viên; và (c) sự hỗ trợ về thể chế.
Các yếu tố nội bộ công ty bao gồm trước hết là các kién thức và kỹ năng của nha quan lý và các lực lượng lao động mà họ thu được thông qua các kinh nghiệm trước đó. Các công ty đòi hỏi một nguồn lực có day đủ trình độ dé tiếp thu công nghệ mới, thay đôi chúng, tạo ra và chuyên giao công nghệ mới, đặc biệt là các nhà khoa học và các kỹ sư. Sự bat lực 21 trong tuyến dụng cán bộ kỹ thuật chất lượng cao có thé ảnh hưởng nghiêm trong phát triển trong tương lai. Các doanh nghiệp có thé tiếp tục tăng cường nguồn nhân lực của họ theo thời gian băng đảo tạo nội bộ (chính thức và không chính thức), Một hoạt động khác là “learning by doing” thông qua sự tham gia vào các dự án R&D và những nỗ lực công nghệ, chính thức liên mink chat ché với sản xuất, hướng vào giải quyết các van dé dan dan và các thứ nghiệm.
Tương tac với các nhà cung cap, Khách hang, cơ quan hỗ trợ công cộng, hà ` hiệp hội ngành nghề, các tô chức có thé cùng cấp đầu vào đang thiếu mà cân thiết cho quá N trình học tập của doanh nghiệp mà tự ban thân các doanh nghiệp không dé dang có được. Tương tác có thé xảy ra cho mục dich thu thập thông tin về công nghệ va thị trường, và cũng để thu thập các đầu vào khác nhau dé bố sung cho qua trình học tập nội bộ, chang han như dao tạo nhân viên bền ngoài, cung cấp các bộ phan và lình kiện, tu vẫn địch vụ, và tài trợ R&D. Tương tác tích cực với khách hàng và các nhà cung cấp được cho là đặc biệt có lợi. Nó đã tiếp tục được gợi ý rằng “học tập băng tương tác” hiệu quả sẽ được thúc đây bởi các phân nhóm khu vực.
Nghiên cứu cho răng có thé thúc đây sự cải thiện công nghệ và khả năng cạnh tranh thông qua các tương tác bên ngoài tích cực, các mối liên kết thị trường và khả năng hợp tác. Việc chuyền tải các kiến thức mới trên một khoảng cách lớn sẽ gặp khó khăn nên sự gan gũi về mặt địa lý của các thành viên có vai trò quan trọng đối với doi mới triệt dé vì nó liên quan đến sự không chắc chan cao va rủi ro. Tương tác gần gũi giữa các đối tác trong mạng liên kêt hỗ trợ xây dựng mối quan hệ cá nhân và sự tin tưởng có thé giảm thiểu rủi ro và sự không chắc chăn. Ngoài ra sự gần gũi còn giảm chi phí truyền thông, và tương tác mặt đối mặt tăng chất lượng trao đôi.
Mạng lưới liên kết khu vực có thể thúc đây tính sáng tạo của các công ty công nghệ cao và nhỏ. Một mạng lưới dày đặc của liên kết kinh doanh khu vực nên được thiết lập, được thiết kế để cung cấp điểm truy cập dễ dàng với một loạt các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Sự đôi mới và tư van công nghệ phối hợp việc sử dụng các nguồn hỗ trợ đôi mới địa phương và hoạt động tư vấn quản lý đôi mới.2 Nghiên cứu của Wan & cộng sự (2005) Wan & cộng sự (2005) đã sử dụng mội thước đo tông hợp bao gồm cả các yếu tô đâu vào (các yêu t6 tác động) và yêu tô đầu ra (ket qua doi mới sáng tạo) dé đo năng lực doi 22 Tới sang tao của các công ty, Pop 1000 công ty dựa trên doanh thu được lựa chọn từ danh mục các công ty Singapore (1999) năm trong phạm vi nghiên cứu, kết quá thu thập được 71 mẫu sau khi phát ra 1000 mẫu. Đối tượng khảo sát là các quản lý nhân sự từ các công ty được lựa chọn, người có kiến thức đây đủ vẻ các quản trị cấp cao cũng như các nhân viên cấp thấp, Nghiên cứu đo mức độ đôi mới sáng tạo của công ty bằng một chỉ số § yếu tô, Quá trình đôi mới là một hiện tượn g phức tạp đặc trưng bởi nhiều giải đoạn khác nhau, từ nghiên cứu cơ bản đến thâm nhập thị trường với một sản phẩm mới, điều quan trọng là phải xem xét một loạt các chỉ số đôi mới để nam bắt chính xác hơn mức độ sáng tạo trong một công ty.
Một trong những phương pháp đánh giá sự đối mới là dé phân biệt giữa các kết qua đầu ra của hoạt động sáng tao và các đầu vào cho hoạt động sang tao. Các thang do dau ra bao gồm số lượng các sản pham hoặc quá trình mới được phát triển bởi các công ty trong một năm, Công ty sáng tạo được giả định khi nó phát trién nhiều sản phẩm va quá trình mới hơn các doanh nghiệp không sáng tạo.