Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận. 7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Nếu đề tài này đƣợc triển khai thành công sẽ mang lại ý nghĩa: - Về mặt kinh tế: giảm thiểu rủi ro tín dụng, nâng cao hiệu quả kinh doanh của Maritime Bank- Chi nhánh Hà Nội, - Về mặt xã hội: nâng cao thu nhập cho cán bộ công nhân viên chi nhánh, từ đó góp phần ổn định an sinh xã hội tại địa bàn, - Về mặt khoa học: góp phần làm sáng tỏ những lý luận về giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng của hệ thống ngân hàng. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại NHTM loại hình ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông qua việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu. Khái niệm ngân hàng đang thay đổi vì sự pha trộn các hoạt động truyền thống của ngân hàng với các loại hình trung gian tài chính khác.
Cho đến cuối những năm 1960, điểm đặc thù để phân biệt một NHTM với các ngân hàng trung gian khác là ở chỗ NHTM là đơn vị duy nhất đƣợc phép mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của cho công chúng. Từ những năm 1980, sau khi tiền gửi không kỳ hạn đã đƣợc phép trả lãi, các ngân hàng tiết kiệm và các ngân hàng trung gian khác cũng bắt đầu mở những tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, cho phép công chúng sử dụng séc một cách đa dạng dƣới nhiều hình thức. Với sự kiện này, việc phân biệt NHTM với các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác dựa trên tài sản. Với cách phân loại trên, một NHTM là một ngân hàng trung gian mà tỷ lệ vốn cho vay vào mục đích thƣơng mại và công nhiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của nó.
Mặc dù có một biên giới rất mong manh giữa NHTM với các ngân hàng trung gian khác, ngƣời ta vẫn tách NHTM với các ngân hàng trung gian khác vì những lý do đặc biệt của nó. Một trong những lý do này là tổng tài sản của NHTM luôn là khối lƣợng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống ngân hàng. Hơn nữa, khối lƣợng séc hay tiền gửi không kỳ hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền tệ M1 của nền kinh tế [14] Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội khoá 12 thông qua vào ngày 17/06/2010 định nghĩa 6 “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”; “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này”; “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng c)Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.2 Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại Với sự phát triển của kinh tế, khoa học công nghệ hiện đại, sự gia tăng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, hoạt động của NHTM ngày càng đa dạng. Những hoạt động cơ bản của NHTM bao gồm: Huy động vốn, tín dụng, đầu tƣ và các dịch vụ khác.
- Hoạt động huy động vốn Xuất phát từ đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành ngân hàng, muốn thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình thì trƣớc tiên các ngân hàng phải có vốn. Nguồn vốn của các ngân hàng rất đa dạng và phong phú. Nguồn vốn huy động của ngân hàng chủ yếu là bộ phận tiền gửi nhàn rỗi của mọi tầng lớp trong xã hội, kể cả các Doanh nghiệp (DN), các cơ quan đoàn thể, các cá nhân dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn hoặc tiền gửi tiết kiệm. Bộ phận vốn này thuộc sở hữu của các đối tƣợng khác nhau với số lƣợng, tính chất, thời hạn nhàn rỗi khác nhau.
Do đó ngân hàng phải có những biện pháp thích hợp để động viên khuyến khích việc gửi tiền, nhƣ đa dạng hoá các hình thức huy động, quy định mức lãi và hình thức trả lãi thoả đáng phù hợp với từng hình thức huy động, cung cấp các dịch vụ thanh toán có chất lƣợng, hạch toán nhanh chóng, chính xác, kịp thời, đảm bảo nhu cầu thanh toán bằng mọi hình thức khi khách hàng có nhu cầu, sử dụng hình thức thông tin tuyên truyền trong từng đợt huy động vốn. Bên cạnh nguồn tiền gửi của các DN và dân cƣ, nguồn vốn đi vay ngân hàng nhà nƣớc, các tổ chức tín dụng khác còn phải kể đến nguồn vốn tự có và quỹ của ngân hàng. Nguồn này thƣờng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn, song đây 7 lại là bộ phận hết sức quan trọng. Nó là cơ sở để khởi động các hoạt động của ngân hàng, đồng thời giảm thiểu rủi ro, tránh khả năng khủng hoảng, nâng cao khả năng thanh toán của ngân hàng.
Ngoài ra, ngân hàng còn có thể tận dụng các nguồn vốn khác nhƣ: nguồn vốn uỷ thác của các tổ chức tín dụng lớn, các tổ chức tín dụng nƣớc ngoài. Tuy nhiên, nguồn vốn này thƣờng không ổn định và không phải ngân hàng nào cũng có điều kiện sử dụng. - Hoạt động sử dụng vốn Trên cơ sở nguồn vốn huy động, các ngân hàng tiến hành các hoạt động sử dụng vốn để tìm kiếm lợi nhuận. Các hoạt động sử dụng vốn chủ yếu bao gồm: + Hoạt động ngân quỹ: Cũng nhƣ các DN khác, khả năng thanh toán của ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng, quyết định sự tồn tại hay sụp đổ của một ngân hàng.
Khả năng thanh toán thƣờng xuyên của ngân hàng đƣợc đảm bảo bằng các tài sản nhƣ: tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng nhà nƣớc, các tổ chức tín dụng khác. Khả năng thanh toán của NHTM càng cao khi số lƣợng tài sản trên càng nhiều. Tuy nhiên, việc giữ nhiều tài sản này sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng do đặc điểm của chúng là không sinh lời hoặc sinh lời thấp. Các ngân hàng cần phải tính toán để duy trì tài sản này ở mức hợp lý vừa đảm bảo khả năng thanh toán thƣờng xuyên, vừa đạt mức lợi nhuận hợp lý.
Đó chính là hoạt động ngân quỹ. + Hoạt động cho vay và đầu tư: Hoạt động cho vay và đầu tƣ là hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên nhất, mang lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng. Đây chính là việc ngân hàng cho khách hàng vay vốn với điều kiện phải hoàn trả gốc và lãi vay trong một thời gian nhất định. Hoạt động này đem lại khoản thu nhập lớn cho ngân hàng, song cũng đặt ngân hàng trƣớc những nguy cơ rủi ro cao nhất.
Vì vậy, việc quản lý các khoản cho vay luôn đƣợc ngân hàng đặc biệt chú ý. Ngân hàng cũng có thể tiến hành đầu tƣ thông qua việc mua bán các chứng khoán trên thị trƣờng để tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch giá. Đây cũng là 8 cách thức để ngân hàng tiến hành đa dạng hoá nghiệp vụ kinh doanh. Hơn nữa, các chứng khoán có độ an toàn và có tính động cao sẽ giúp đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng đƣợc tốt hơn.
Quá trình phân phối vốn trong cho vay và đầu tƣ, ngân hàng đáp ứng nhu cầu thiếu vốn cho các khách hàng của mình. Điều mà ngân hàng quan tâm chính là việc sử dụng vốn có hiệu quả và đảm bảo tính hoàn trả đúng thời hạn cả vốn lẫn lãi. Nhƣ vậy, quá trình huy động vốn và sử dụng vốn của tín dụng ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc giải quyết tốt mối quan hệ này có ảnh hƣởng trực tiếp đến việc duy trì sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
- Hoạt động khác Bên cạnh công tác huy động vốn, cho vay và đầu tƣ ngân hàng còn đa dạng hoá hoạt động của mình thông qua các nghiệp vụ trung gian khác nhƣ: thanh toán hoặc chi hộ cho khách hàng bằng cách ghi nợ hoặc ghi có trên tài khoản tiền gửi tƣơng ứng của khách hàng, ngân hàng thực hiện dịch vụ này thông qua hình thức giấy uỷ nhiệm thu-chi, thƣ tín dụng. Dịch vụ chuyển tiền cho khách hàng, môi giới trong việc mua bán hộ các chứng khoán, vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ. Ngoài ra, NHTM còn tham gia hoạt động trên thị trƣờng hối đoái, thị trƣờng chứng khoán, hoạt động tƣ vấn. Hoạt động của các NHTM vô cùng phong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp.
Chính vì vậy, NHTM đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất và lƣu thông hàng hoá, trong sự phát triển kinh tế hàng hoá gồm nhiều thành phần tham gia, vận động theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc.2 Những vấn đề cơ bản về tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại * Khái niệm Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay (là tổ chức cá nhân trong nền kinh tế), trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. 9 Tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, nó tồn tại ở các nền kinh tế và ở mọi quốc gia. Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định giá cả, tiền tệ, đời sống xã hội, mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại, giao lƣu quốc tế. Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của các NHTM.
Dƣ nợ tín dụng thƣờng chiếm trên 60% tổng tài sản của NHTM và thu nhập từ tín dụng thƣờng chiếm từ 70% - 90% tổng thu nhập của NHTM [17]. Bên cạnh việc mang lại thu nhập chính cho ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng có xu hƣớng tập trung vào danh mục tín dụng. Chính vì vậy mà hoạt động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của các NHTM cũng nhƣ thanh tra ngân hàng. * Đặc trƣng hoạt động tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin.