Chương 1: Tổng quan chất lượng thanh toán quốc tế bằng L/C của Ngân hàng thương mại Việt Nam. Chương 2: Thực trạng chất lượng thanh toán quốc tế bằng L/C tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thanh toán quốc tế bằng L/C tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƢỢNG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG L/C CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM 1.1 TỔNG QUAN THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG L/C Hiện nay, trong ngoại thương, người ta dùng một số phương thức thanh toán phổ biến sau: Phương thức chuyển tiền Phương thức nhờ thu Phương thức tín dụng chứng từ Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu, nhược điểm và quy trình riêng, phù hợp với từng hợp đồng thương mại.
Nhưng với đặc điểm là có lợi cho cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu nên phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng nhiều hơn cả trong thanh toán ngoại thương.1 Khái niệm và đặc điểm phƣơng thức thanh toán TDCT 1.1 Khái niệm Theo điều 2, UCP 600, TDCT được định nghĩa như sau: “Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”1. Từ định nghĩa trên, phương thức thanh toán TDCT có ưu điểm hơn so với các phương thức khác như sau: Đối với nhà xuất khẩu: được ngân hàng phát hành (NHPH) đảm bảo thanh toán nếu xuất trình phù hợp. Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương, Nhà xuất bản thống kê, Năm 2013, Trang 335 5 Đối với nhà nhập khẩu: được NHPH đảm bảo không phải trả tiền chừng nào chưa nhận được bộ chứng từ nhập khẩu phù hợp.2 Đặc điểm của giao dịch L/C a. L/C là hợp đồng kinh tế 2 bên: Nhiều người lầm tưởng rằng L/C là hợp đồng kinh tế ba bên gồm NHPH, nhà xuất khẩu (NXK), nhà nhập khẩu (NNK).
Nhưng thực chất, L/C là hợp đồng kinh tế độc lập của chỉ hai bên là NXK và NHPH. Cả hai bên phải tuân thủ theo đúng những điều khoản của L/C và nếu có sửa đổi L/C thì phải được cả hai bên đồng ý. Mọi yêu cầu và chỉ thị của NNK đã do NHPH đại diện, do đó tiếng nói chính thức của NNK không được thể hiện trong L/C. L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa: NXK và NNK cùng thỏa thuận và lập nên hợp đồng mua bán.
Theo thỏa thuận, NNK sẽ lập đơn xin mở L/C đề nghị ngân hàng phát hành L/C cho NXK. Sau khi được thành lập, L/C trở nên độc lập với hợp đồng mua bán, nó ràng buộc trách nhiệm giữa NHPH và NXK. Một L/C đã được mở và đã được các bên chấp nhận, thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không, cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan đến L/C. L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán cũng chỉ bằng chứng từ: Trong phương thức L/C, các ngân hàng, chỉ trên cơ sở chứng từ, kiểm tra việc xuất trình để quyết định xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không.
Như vậy, các chứng từ trong giao dịch L/C đóng một vai trò vô cùng quan trọng, nó là bằng chứng của việc giao hàng của người bán, là đại diện cho hàng hóa được giao, do đó là căn cứ để ngân hàng trả tiền, là căn cứ để nhà nhập khẩu hoàn trả tiền cho ngân hàng, là chứng từ đi nhận hàng của nhà nhập khẩu… Việc nhà xuất khẩu có thu được tiền hay không phụ thuộc duy nhất vào xuất trình chứng từ phù hợp, đồng thời ngân hàng cũng chi trả tiền khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp. 6 Khi chứng từ xuất trình phù hợp thì ngân hàng phải thanh toán vô điều kiện cho nhà xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hóa có thể không được giao hoặc giao không hoàn toàn đúng như trên bề mặt chứng từ. L/C yêu cầu tuân thủ chặt chẽ bộ chứng từ: Vì giao dịch chỉ bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ nên yêu cầu tuân thủ chặt chẽ bộ chứng từ là nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C. Để được thanh toán, người xuất khẩu phải lập được bộ chứng từ phù hợp, tuân thủ chặt chẽ các điều khoản và điều kiện của L/C, bao gồm số loại, số lượng mỗi loại và nội dung chứng từ phải đáp ứng được chức năng của chứng từ yêu cầu.
L/C là công cụ thanh toán, hạn chế rủi ro cũng là công cụ từ chối thanh toán và lừa đảo: Từ bản chất L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và khi kiểm tra chứng từ lại chỉ xem xét trên bề mặt chứ không xem xét tính chất bên trong của chứng từ, chính vì điều này mà không ít các tranh chấp xảy ra về tính tuân thủ chặt chẽ của chứng từ. Trong thực tế, lập được bộ chứng từ hoàn hảo không có bất cứ sai sót nào là một việc làm không hề đơn giản chút nào, hơn nữa, giữa “phù hợp” và “sai sót” lại có ranh giới rất mong manh, tùy thuộc vào tập quán, trình độ, quan điểm, động cơ của những người liên quan. Ngoài ra, do tính độc lập của L/C với hợp đồng nên bọn lừa đảo có thể lợi dụng không giao hàng hoặc giao hàng không đúng nhưng vẫn lập được bộ chứng từ phù hợp để thanh toán. Thực tế, trên thế giới đã xảy ra không ít những trường hợp như thế.2 Văn bản pháp lý điều chỉnh Hoạt động thanh toán quốc tế bằng L/C ngoài việc phải tuân thủ các nguồn luật đương nhiên như: công ước, các nguồn luật quốc tế liên quan và các nguồn luật quốc gia; đồng thời còn phải chịu sự điều chỉnh trực tiếp bởi các thông lệ và tập quán quốc tế, bao gồm: 7 STT Tiếng anh Tiếng việt Viết tắt Uniform Customs And Practice Quy tắc và thực hành thống nhất về 1 UCP For Documentary Credit tín dụng chứng từ International Standard Banking Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc ISBP 2 Practice Under Documentary tế trong kiểm tra chứng từ theo tín Credit dụng chứng từ Supplement To The UCP For Bản phụ trương UCP về xuất trình eUCP 3 Electronic Presentation chứng từ điện tử Uniform Rules For Bank - To – 4 Quy tắc thống nhất về hoàn trả liên URR Bank Reimbursement Under hàng theo tín dụng chứng từ Documentary Credit Trong 4 văn bản pháp lý trên thì UCP là văn bản chính, còn các văn bản khác có tính chất giải thích và làm rõ việc áp dụng, thực hiện UCP.
Trình tự ưu tiên về pháp lý theo thứ tự giảm dần là: Công ước và luật quốc tế Luật quốc gia Thông lệ và tập quán quốc tế Thông lệ và tập quán quốc tế là những văn bản quy phạm pháp luật tùy ý bởi vì các văn bản này do ICC (International Chamber Of Commerce) phát hành, mà ICC là một tổ chức mang tính hiệp hội, nghề nghiệp chứ không phải một tổ chức liên chính phủ, do đó, UCP do ICC ban hành không mang tính chất pháp lý bắt buộc đối với các hội viên cũng như các bên liên quan. Tính chất pháp lý tùy ý của UCP được thể hiện ở các điểm sau: Tất cả các phiên bản UCP đều còn nguyên giá trị, phiên bản sau không phủ nhận phiên bản trước. Do đó, khi dẫn chiếu UCP phải nói rõ áp dụng UCP nào. Chỉ khi trong L/C có dẫn chiếu UCP thì nó mới trở nên có hiệu lực pháp lý bắt buộc điều chỉnh các bên tham gia.
Các bên có thể thỏa thuận trong L/C: 8 Không thực hiện hoặc thực hiện khác đi một hoặc một số điều khoản quy định trong UCP Bổ sung thêm các điều khoản vào L/C mà UCP không đề cập. Nếu nội dung của UCP có xung đột với luật quốc gia, thì luật quốc gia được vượt lên trên về mặt pháp lý. Trong giao dịch L/C, các bên trước hết phải tuân thủ các điều khoản của L/C, sau đó là các điều khoản của UCP được áp dụng.3 Quá trình thanh toán tín dụng chứng từ 1.1 Các bên tham gia a. Các bên bắt buộc không thể thiếu: Người yêu cầu mở L/C (applicant): Là người yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành L/C và có trách nhiệm pháp lý về việc ngân hàng trả tiền cho người thụ hưởng L/C.
Người yêu cầu mở L/C thường là người nhập khẩu (importer), ngoài ra còn được gọi là người mở (opener), người mua (buyer), người trả tiền (accountee). Người thụ hưởng L/C (Beneficiary): Là người được hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C. Tùy hoàn cảnh cụ thể mà có những tên gọi khác nhau như người bán (seller), nhà xuất khẩu (exporter), người ký phát hối phiếu (drawer), người thắng thầu (contractor). NHPH (Issuing Bank): Là ngân hàng phát hành L/C theo đơn của người yêu cầu.
NHPH thường do hai bên mua bán thỏa thuận và quy định trong hợp đồng. Nếu không có sự thỏa thuận thì nhà nhập khẩu được phép tự chọn NHPH. Ngân hàng thông báo (Advising Bank): Là ngân hàng được NHPH ủy quyền thông báo L/C cho người thụ hưởng. NHTB thường là ngân hàng đại lý hay chi nhánh của NHPH ở nước người xuất khẩu.
Các bên có thể tham gia: Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): Là ngân hàng bổ sung sự xác nhận của mình vào L/C theo yêu cầu hoặc sự ủy quyền của NHPH. Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): Là ngân hàng mà tại đó L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu. Đối với L/C có giá trị tự do thì bất kỳ ngân hàng nào đều có thể trở thành NHđCĐ. Trách nhiệm kiểm tra chứng từ của NHđCĐ là giống như NHPH khi nhận được thông báo.
Ngân hàng chuyển nhượng L/C (Tranferring Bank): Trong trường hợp L/C được phép chuyển nhượng thì ngân hàng này sẽ đứng ra làm thủ tục chuyển nhượng L/C từ người thụ hưởng thứ nhất sang người thụ hưởng thứ hai theo yêu cầu của người yêu cầu. Ngân hàng hoàn trả (Reimbursing Bank): Là ngân hàng được NHPH ủy quyền hoàn trả cho NHđCĐ khi nhận được xác nhận của ngân hàng này rằng “bộ chứng từ xuất trình phù hợp”. NHHT sẽ ghi nợ cho NHPH, ghi có cho NHđCĐ.2 Quy trình nghiệp vụ Sơ đồ 1.