CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm bối cảnh nghiên cứu về chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản Chất lượng tài trợ NCCB nói riêng và chất lượng chương trình khoa học nói chung đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới, từ các nước phát triển như Mỹ, Đức. Trong đó tại Mỹ (Luật về Thực hiện và Kết quả của Chính phủ - GPRA,1993), tại Mỹ Luật này yêu cầu các cơ quan về KH&CN thực hiện việc đánh giá các chương trình của Chính phủ Liên bang nhằm tăng hiệu suất, hiệu quả tài trợ từ tài chính công và hơn hết tăng tính trách nhiệm trong các chương trình này. Tại Đức (Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Cộng hòa Liên Bang Đức - BMBF) hàng năm sẽ tổ chức đánh giá các chương trình do Bộ tài trợ các hoạt động KH&CN, mục đích của việc này là đánh giá hiệu quả, hiệu suất tài trợ từ ngân sách nhà nước để giúp Bộ có thể chủ động điều chỉnh, hoặc thậm chí ngừng tài trợ cho những hoạt động không hiệu quả để không lãng phí tiền bạc.
Đối với các nước đang phát triển như Hàn Quốc (Luật về Cải cách KH&CN, 1997) được ban hành trong đó Viện Đánh giá và lập kế hoạch KH&CN Hàn Quốc (KISTEP) ra đời năm 1998 đã đã giúp quốc gia này thực hiện việc phân tích, đánh giá chất lượng, hiệu quả, hiệu suất các chương trình nghiên cứu và phát triển (R&D) cấp quốc gia có kinh phí đầu tư từ ngân sách trên 10 triệu đô la Mỹ và có tầm ảnh hưởng quan trọng với chiến lược phát triển KH&CN của Hàn Quốc. Tại Trung Quốc, Trung tâm đánh giá KH&CN Quốc gia (NCSTE) ra đời năm 1994 đã giúp Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc đánh giá hiệu quả và hiệu suất các chương trình KH&CN do nhà nước tài trợ để giúp Nhà nước ra quyết định đầu tư tiếp hoặc dừng đầu tư. Bên cạnh các hành động từ cấp Quản lý, nhiều tác giả trên thế giới cũng nghiên cứu về chất lượng tài trợ NCCB và lợi ích tài trợ cho hoạt động này như tại Mỹ có nghiên cứu của Storey và Tether (1998), McMillan và Hamilton (2002); tại Anh có các nghiên cứu của Martin và cộng sự (1996) và đa số các nước đang phát triển trong đó điển hình như Li Zhquang và J Iang Jingnan (2006); Song Hefa, Ren Zhongbao và Mu Rongping (2005); LI Yan-Ping, GUO Wei và Huang Xia (2009). Điều này cho thấy, chất lượng tài trợ công cho NCCB là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Nghiên cứu về chất lượng tài trợ NCCB cũng được thực hiện thông qua việc đánh giá kết quả hoạt động nghiên cứu như chất lượng các công bố khoa học, chất lượng đào tạo nhân lực khoa học thông qua hoạt động này. Nhiều tác giả đã đánh giá các giá trị này trong đó có nghiên cứu của Cohen và Levinthal (1989) chỉ ra nhà n 2 khoa học khi nhận được tài trợ cho hoạt động nghiên cứu có thể phát triển kiến thức ngầm và cung cấp “năng lực” hấp thụ cần thiết cho việc xác định và tiếp thu tri thức khoa học. Nghiên cứu của Grant và nnk (2003) đã chỉ ra 21% các công bố quốc tế là tiền đề cho các ứng dụng trong chữa bệnh về tim mạch, còn Hanney và nnk (2003 và 2004) thì chỉ ra rằng tác động từ NCCB đã giúp giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật trong lĩnh vực y sinh, tiết kiệm chi phí thiết bị y tế trong chữa bệnh. Các nghiên cứu của De Solla Price (1965); Cooke và Morgan (1993); Darby và nnk (2003) chỉ ra rằng thông qua hoạt động NCCB các nhà khoa học được thường xuyên trao đổi giao lưu học thuật với nhau, điều đó giúp họ nhanh chóng tiếp thu các vấn đề cụ thể để được nhận thông tin hoặc tư vấn từ các chuyên gia đầu ngành.
Đây được coi là chìa khóa để tạo dựng mối quan hệ tin cậy trong nghiên cứu khoa học, được đánh giá là một chỉ số ngầm của việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong hoạt động khoa học và công nghệ. Ngoài nâng cao kỹ năng cho các nhà khoa học, các nghiên cứu của Gibbons và Johnston (1974); Martin và Irvine (1981); Rossner và nnk (1998); Zeller (2002) còn chỉ ra rằng thông qua việc tiếp xúc với hoạt động NCCB các sinh viên đại học và sau đại học có cơ hội được đào tạo tốt hơn các kỹ năng nghiên cứu, phát triển ý tưởng nghiên cứu một cách chủ động hơn, có khả năng sử dụng các thiết bị kỹ thuật tiên tiến tốt hơn, khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp cũng ngày càng tốt hơn. Tóm lại, thông qua đặc điểm bối cảnh nghiên cứu về chất lượng tài trợ công cho NCCB của các quốc gia và các nhà khoa học trên thế giới cho thấy các quốc gia và các nhà khoa học trên thế giới đều đang tích cực hướng tới mục tiêu làm rõ nội hàm chất lượng tài trợ NCCB theo cách này hoặc cách khác ở nhiều góc độ khác nhau. Từ các nghiên cứu đi trước cũng như những bài học triển khai thực tế ở các quốc gia cho thấy rằng, chất lượng tài trợ NCCB có thể biểu hiện thông qua nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, được biểu hiện thông qua nhiều hình thức như chất lượng chương trình KH&CN, chất lượng của kết quả nghiên cứu sau tài trợ, chất lượng phối hợp giữa các bên liên quan trong quá trình thực hiện tài trợ nghiên cứu hay thông qua những giá trị mà hoạt động này đóng góp cho xã hội.
Do đó, cho đến nay chưa có một khái niệm nào thể hiện sự tổng quát về bản chất của cụm từ “chất lượng tài trợ NCCB”. Chính vì vậy, cần thiết phải có những nghiên cứu về bản chất của chất lượng tài trợ NCCB để có căn cứ khoa học xác định được các tiêu chí đánh giá phù hợp, hay những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tài trợ NCCB trong bối cảnh tài trợ công ở Việt nam thời gian qua. Các nghiên cứu liên quan đến đo lường chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản Mỹ thực hiện Luật về Thực hiện và Kết quả, Luật này đã quy định việc đo lường khi đánh giá các chương trình R&D trong đó NCCB được đo lường thông qua các tiêu chí (1) Sự phù hợp, (2) chất lượng và sự dẫn đầu về trình độ nghiên cứu. Nhằm tích hợp thông tin về kết quả hoạt động vào quá trình phân bổ ngân sách Mỹ công khai bộ công cụ đánh giá hiệu quả chương trình liên bang PART (Program Assessment Rating Tool) với 25 câu hỏi chấm điểm cho 4 nhóm và xếp loại chia làm 4 mức Rất hiệu quả, Hiệu quả vừa phải, Đạt (trung bình) và Không hiệu quả.
Hàn Quốc đánh giá chương trình KISTEP, chương trình KH&CN được đánh giá theo các tiêu chí cơ bản gồm (1) Hiệu lực của chương trình, (2) Hiệu quả quản lý chương trình, (3) Kết quả và hiệu quả của chương trình (output & outcome). Việc xếp hạng chương trình được phân thành 3 hoặc 5 mức cụ thể: Với 5 mức thì A (cao nhất trên 90%), B (từ 70-90%), C (từ 30-70%), D (từ 10-30%), và E (dưới 10%). Với 3 mức có Xuất sắc (>70%), Trung bình (30-70%) và Kém (<30%). Trung Quốc đánh giá chương trình KH&CN thông qua Trung tâm Đánh giá khoa học và công nghệ Quốc gia (NCSTE) để đánh giá các chương trình, đề tài do Chính phủ tài trợ.
Bộ tiêu chuẩn đánh giá chương trình được ban hành năm 2001 với 8 tiêu chí gồm (1) Tiêu chí về phù hợp (phù hợp với chính sách R&D quốc gia), (2) Tiêu chí về Mục tiêu (chương trình có phù hợp với mục tiêu R&D), (3) Kết quả (đầu ra có theo mục tiêu không), (4) Hiệu suất (đầu ra có tối đa bởi đầu vào), (5) Tác động (các tác động tích cực/ tiêu cực), (6) Đổi mới công nghệ (loại hình/mức độ đổi mới), (7) Hiệu quả (hoạt động R&D có được hỗ trợ một cách hiệu quả), (8) Công bằng (hoạt động R&D có được phân bổ công bằng về nguồn lực và lợi ích hay kinh phí). Có thể thấy rằng, mặc dù mỗi quốc gia đều nỗ lực xây dựng các công cụ quản lý nhằm nâng cao chất lượng tài trợ công cho nghiên cứu khoa học nói chung và NCCB nói riêng. Điều đó cho thấy xu hướng nâng cao chất lượng tài trợ công cho nghiên cứu khoa học nói chung và NCCB nói riêng đã và đang là xu hướng cấp bách trong bối cảnh khủng hoảng về tài chính và nâng cao chất lượng tài trợ NCCB. - Đo lường chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản thông qua đa tiêu chí Khi xem xét đa tiêu chí để đánh giá chương trình KH&CN nghiên cứu của Hemlin (1991) và Som D.
Jarwal và cộng sự (2009) đã sử dụng đa tiêu chí khi đánh giá chất lượng tài trợ công thông qua tiêu chí hiệu quả và chất lượng nghiên cứu đầu ra bên cạnh các chỉ số như tác động của kết quả, tiêu chí mục tiêu và lợi ích của các bên liên quan cũng cần được xem xét một cách tổng thể. Rossi và công sự (2003) cũng đề xuất 5 nhóm tiêu chí khi đánh giá một chương trình KH&CN nói chung, 5 tiêu chí đó là: (1) đánh giá sự cần thiết phải xây dựng chương trình; (2) Đánh giá việc thiết kế chương trình và logic/ lý thuyết (3) Đánh giá chương trình được thực hiện như thế nào; (4) Đánh giá chi phí và hiệu quả của chương trình; (5) Đánh giá kết quả và tác động mà chương trình đạt được. Hansen (2010) tại Hội thảo quốc tế về chủ đề “Tài trợ dựa trên hiệu quả cho nghiên cứu công cộng, 2010” đã được xuất bản thành kỷ yếu bởi tổ chức OECD, nghiên cứu đánh giá chất lượng các quỹ công cộng cần đo lường các kết quả mang lại bởi tổ chức đó.