Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (mã số 9340412) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương, thực hiện tại Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Tiến Dũng, bảo vệ năm 2023, mang tiêu đề: "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật ở Việt Nam". Luận án được triển khai dựa trên các phân tích thực chứng đối với hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nghiên cứu cơ bản (NCCB) giữ vị trí khởi đầu trong chuỗi nghiên cứu và phát triển (R&D) với chức năng sáng tạo tri thức mới làm tiền đề cho nghiên cứu ứng dụng. Do NCCB không mang lại lợi ích thương mại trực tiếp nên khó thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân, đòi hỏi ngân sách nhà nước phải giữ vai trò tài trợ chủ đạo. Tại Việt Nam, Quỹ NAFOSTED trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ là đơn vị thực hiện tài trợ công tập trung cho NCCB với ngân sách khoảng 500 tỷ đồng mỗi năm. Sau hơn 10 năm vận hành, thực tiễn quản lý bộc lộ ba khoảng trống và hạn chế:

  1. Khoảng trống về nội hàm chất lượng tài trợ: Các quỹ NCCB vận hành theo cơ chế bán chủ động; việc phân bổ kinh phí bị động, công tác lập dự toán, cấp vốn, giám sát còn bất cập dẫn đến chậm trễ tiến độ cấp kinh phí (Lê Văn Đức, 2018; Hà Hoàng Anh Tuấn và Đặng Thị Thúy Nga, 2020). Kinh phí tài trợ chủ yếu chi trả công lao động khoa học, tỷ lệ dành cho vật tư tiêu hao rất thấp và không cấp kinh phí mua sắm trang thiết bị nghiên cứu, khiến các nghiên cứu thực nghiệm bứt phá phải phụ thuộc vào phòng thí nghiệm nước ngoài (Trần Đình Phong, 2017). Cơ chế tài chính của Quỹ chưa đồng bộ hoàn toàn với quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2017 (Nguyễn Quang Thành, 2021).
  2. Khoảng trống về hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng tài trợ: Quá trình xét chọn cạnh tranh thiên lệch về tiêu chí công bố quốc tế, gây bất lợi cho các chuyên ngành đặc thù chỉ có ở Việt Nam hoặc các nghiên cứu đòi hỏi thời gian chu kỳ dài hơn 36 tháng (Trần Đình Phong, 2017; Trần Trọng Dương, 2017). Tiêu chí đánh giá bị nhận định là thiên về công bố quốc tế, chuẩn mực quốc tế và khoa học hiện đại, dẫn đến hiện tượng phân tách nhỏ ("xé lẻ") công trình để nghiệm thu, làm tăng số lượng danh nghĩa nhưng khó nâng cao chất lượng thực chất (Hoàng Anh Tuấn, 2018).
  3. Sự rời rạc trong tương tác giữa các chủ thể tài trợ: Tổ chức chủ trì đề tài còn thụ động, thiếu sự đồng hành với nhóm nghiên cứu (Minh Trang, 2018); tổ chức tài trợ thiếu các văn bản quy định tiêu chuẩn chất lượng tài trợ, phương thức cấp kinh phí chưa đa dạng và chậm tiến độ giải ngân (Thanh Nhàn, 2018).

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Đề xuất phương pháp đo lường, đánh giá chất lượng tài trợ NCCB, qua đó đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tài trợ NCCB trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật (KHTN&KT) ở Việt Nam.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Làm rõ nội hàm khái niệm chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản.
    2. Xác định cách tiếp cận và xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản.
    3. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản phù hợp với bối cảnh tài trợ ở Việt Nam.
    4. Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực KHTN&KT cũng như xem xét mức độ tác động của các yếu tố đến chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực KHTN&KT ở Việt Nam.
    5. Đề xuất các khuyến nghị giúp cải thiện chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực KHTN&KT ở Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Nội hàm chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản là gì?
  2. Các tiêu chí nào phù hợp dùng để đánh giá chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản?
  3. Chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật đang bị ảnh hưởng bởi yếu tố nào?
  4. Thực trạng chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
  5. Các giải pháp nào nên được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật thời gian tới?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật ở Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Khái niệm chất lượng tài trợ NCCB và các yếu tố ảnh hưởng dựa trên lý thuyết về tài trợ công.
  • Phạm vi không gian: Chương trình tài trợ NCCB trong lĩnh vực KHTN&KT tại Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát và tổng hợp dữ liệu thứ cấp trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án tập hợp các công trình trong nước và quốc tế theo các nhóm nội dung:

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Đo lường và đánh giá chương trình khoa học theo quy định công quyền: Hoa Kỳ áp dụng Đạo luật về Thực hiện và Kết quả của Chính phủ (GPRA, 1993) và công cụ PART với 25 câu hỏi phân thành 4 nhóm nhằm xếp loại chương trình thành 4 mức (Rất hiệu quả, Hiệu quả vừa phải, Đạt, Không hiệu quả). Đức thực hiện đánh giá thông qua Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Liên bang (BMBF). Hàn Quốc ban hành Luật Cải cách KH&CN (1997) và vận hành Viện Đánh giá và Lập kế hoạch KH&CN (KISTEP, 1998) để đánh giá các chương trình R&D trên 10 triệu USD theo 3 mức (Xuất sắc >70%, Trung bình 30-70%, Kém <30%) hoặc 5 mức (A, B, C, D, E). Trung Quốc thành lập Trung tâm Đánh giá KH&CN Quốc gia (NCSTE, 1994) và ban hành khung 8 tiêu chí năm 2001 (Li Zhiguang và Jiang Jingnan, 2006; Song Hefa, Ren Zhongbao và Mu Rongping, 2005; Li Yan-Ping, Guo Wei và Huang Xia, 2009).
  • Đánh giá đa tiêu chí và hiệu quả tài trợ: Hemlin (1991), Som D. Jarwal và cộng sự (2009), Rossi và cộng sự (2003) đề xuất 5 nhóm tiêu chí đánh giá chương trình KH&CN. Hansen (2010) tại kỷ yếu OECD về hệ thống tài trợ dựa trên kết quả (PRFS) chia thành các nhóm chỉ tiêu đầu vào, quá trình, cấu trúc, đầu ra và hiệu quả; kết hợp trắc lượng thư mục (chỉ số trích dẫn, H-index) và đánh giá đồng cấp. Bouckaert và Halligan (2008), Mandl và cộng sự (2008) tiếp cận hiệu suất và hiệu quả trong mối quan hệ biến đổi đầu vào - đầu ra. Mayne (2001), Lawani (1977), Geuna và Martin (2003) phân tích tính giải trình công. Jane Qiu (2014) và Wei Yang và cộng sự (2016) phản ánh chiến lược đầu tư của Quỹ Tự nhiên Trung Quốc (NSFC). Barbara Good và cộng sự (2015), Hanssen (2018) tập trung vào kết quả đầu ra.
  • Tác động khoa học và đào tạo: Cohen và Levinthal (1989), Grant và cộng sự (2003), Hanney và cộng sự (2003, 2004), De Solla Price (1965), Cooke và Morgan (1993), Darby và cộng sự (2003), Gibbons và Johnston (1974), Martin và Irvine (1981), Timothy Hogan (1998), John Hattie và cộng sự (1996) phân tích năng lực hấp thu tri thức, đào tạo nhân lực trình độ cao và mạng lưới học thuật.
  • Mô hình hệ thống tài trợ: Lepori (2010) mô tả hệ thống nghiên cứu công qua mô hình 4 phân lớp kết nối giữa chính phủ, tổ chức tài trợ trung gian, tổ chức thực hiện và cá nhân nhà khoa học; Otto Auranen (2007) phân chia các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến nghiên cứu tại Phần Lan dựa trên lý thuyết các bên liên quan của Freeman (1984). Ryanne van Dalen và cộng sự (2014) phân loại ba cơ chế phân bổ kinh phí (tài trợ trước, tài trợ trước - sau, tài trợ cố định).

Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Phương pháp luận đánh giá chương trình KH&CN: Đề tài cấp bộ của Nguyễn Thị Thu Oanh (2015) đề xuất 8 tiêu chí đánh giá chương trình cấp nhà nước (sự phù hợp, nguồn lực, quản lý, kết quả khoa học, kết quả công nghệ, chuyển giao - thương mại hóa, tác động năng lực - tiềm lực KH&CN, tác động kinh tế - xã hội).
  • Đánh giá đầu ra công bố và đào tạo: Vũ Cao Đàm (2011), Nguyễn Thị Cành (2012) phân định sản phẩm khoa học tự nhiên và khoa học xã hội; Hồ Tú Bảo (2010) so sánh giữa bình duyệt định tính và các thước đo trắc lượng định lượng; Hồ Mạnh Dũng (2015), Nguyễn Văn Tuấn và Phạm Thị Lý (2011), Bùi Minh Đức và cộng sự (2019) sử dụng trắc lượng thư mục Scopus/WoS; Nguyễn Hữu Đức (2016), Lê Văn (2016), Phan Thị Tú Nga (2013), Bế Trung Anh và cộng sự (2018) phân tích mối quan hệ giữa công bố quốc tế, quy chế tài trợ công và chất lượng đào tạo sau đại học.

Khoảng trống luận án giải quyết

Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận việc đánh giá theo từng khía cạnh riêng rẽ (hoặc hiệu quả tài chính, hoặc số lượng công bố đầu ra theo trắc lượng thư mục, hoặc phương pháp luận đánh giá chương trình chung). Chưa có công trình nào xây dựng hệ tiêu chí tổng thể về chất lượng tài trợ NCCB dựa trên lý thuyết quản lý theo sứ mệnh và mục tiêu, đồng thời thiếu các kiểm định thực nghiệm định lượng để xác định trọng số, giá trị hội tụ của thang đo cũng như mô hình hóa các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tài trợ trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết chất lượng theo sứ mệnh và mục tiêu (Bogue, 1992): Luận án tiếp cận định nghĩa: "Chất lượng tài trợ NCCB chính là sự phù hợp với những tuyên bố về sứ mệnh và kết quả đạt được của mục tiêu tài trợ NCCB trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai". Định nghĩa này liên kết 3 chuẩn mực thực hiện:
    1. Chuẩn mực tiêu chuẩn (so sánh chỉ số đầu vào, chỉ số quá trình và chỉ số đầu ra theo Frackman, 1987; Jarratt, 1985).
    2. Chuẩn mực so sánh (so sánh giữa các chương trình, nhóm nghiên cứu theo Cullen, 1987; Green, 1994).
    3. Chuẩn mực chuyên gia (đánh giá đồng cấp theo Taylor, 2006).
  • Lý thuyết chất lượng đầu tư công trong chuỗi logic dự án (Nguyễn Hồng Thắng, 2010): Xác định 5 thuộc tính: Sự phù hợp, Hiệu quả, Hiệu suất, Tác động và Tính bền vững.
  • Lý thuyết các bên liên quan (Freeman, 1984) và mô hình hệ thống nghiên cứu công (Lepori, 2010): Xác định 3 nhóm nhân tố tác động đến chất lượng tài trợ gồm: Tổ chức tài trợ (Quỹ NAFOSTED), Tổ chức chủ trì (Viện, Trường) và Nhà khoa học (Chủ nhiệm đề tài, nhóm nghiên cứu).
  • Khung phân loại chuyên ngành: Dựa trên tài liệu hướng dẫn Frascati 2002 của OECD và Quyết định số 12/2008/QĐ-BKHCN, Quỹ NAFOSTED tài trợ cho 8 ngành KHTN&KT: (101) Toán học, (102) Khoa học máy tính, (103) Vật lý, (104) Hóa học, (105) Khoa học trái đất và Môi trường, (106) Sinh học Nông nghiệp, (107) Cơ học và Kỹ thuật, (108) Y sinh Dược học.

Phương pháp nghiên cứu và quy trình xử lý dữ liệu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp kỹ thuật định tính và định lượng:

Phương pháp Quy mô / Đối tượng Kỹ thuật & Công cụ Tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng
Phỏng vấn chuyên gia Thành viên Hội đồng khoa học, cán bộ quản lý Quỹ, chủ nhiệm đề tài NCCB Phỏng vấn sâu bán cấu trúc Phân nhóm thông tin, tham vấn hiệu chỉnh thang đo và bảng hỏi
Khảo sát bảng hỏi 700 chủ nhiệm đề tài KHTN&KT (650 đề tài nghiệm thu Đạt, 50 đề tài Không đạt) Bảng hỏi trực tuyến Google Form, chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản Đo lường mức độ đồng thuận thang Likert 5 điểm
Trắc lượng thư mục (Bibliometrics) 6.424 bài báo do Quỹ NAFOSTED tài trợ (2009-2019) Khai thác cơ sở dữ liệu Web of Science Trích dẫn trung bình, vai trò tác giả chính (First/Corresponding Author), xếp hạng tạp chí
Phân tích độ tin cậy thang đo Dữ liệu khảo sát từ các biến quan sát Hệ số Cronbach's Alpha (SPSS 20.0) Hệ số tương quan biến - tổng $\ge 0,3$; Cronbach's Alpha $\ge 0,6$
Phân tích nhân tố khám phá (EFA) Các thang đo tiêu chí và nhân tố ảnh hưởng Xoay nhân tố trực giao (SPSS 20.0) Factor loading $\ge 0,5$; $0,5 \le \text{KMO} \le 1$; Bartlett Sig. $< 0,05$; Phương sai trích $> 50%$
Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) Mô hình đo lường chất lượng tài trợ CFA (SPSS Amos / SPSS) $\text{CMIN/df} < 3$ (hoặc $< 5$ khi $N > 300$); CFI, GFI, TLI $> 0,9$; RMSEA $< 0,05$
Phân tích hồi quy tuyến tính (OLS) Biến phụ thuộc: Chất lượng tài trợ; Biến độc lập: 3 nhóm chủ thể Phân tích hồi quy đa biến và hồi quy theo loại hình nghiên cứu Mức ý nghĩa thống kê $p < 0,05$; kiểm tra đa cộng tuyến và tác động điều tiết của loại hình nghiên cứu
Phân tích thứ bậc (AHP) Ý kiến chuyên gia Phương pháp AHP Sắp xếp thứ tự ưu tiên các phương án ra quyết định

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về quản lý và tài trợ nghiên cứu khoa học cơ bản trên phạm vi quốc tế và tại Việt Nam. Tác giả phân tích kinh nghiệm quản lý tài trợ công của Hoa Kỳ (GPRA, PART), Đức (BMBF), Hàn Quốc (KISTEP), Trung Quốc (NCSTE), đồng thời phân loại các hướng tiếp cận đánh giá: tiếp cận đa tiêu chí (Hemlin, 1991; Rossi và cộng sự, 2003; Hansen, 2010), tiếp cận theo hiệu suất và hiệu quả (Bouckaert và Halligan, 2008; Mandl và cộng sự, 2008), tiếp cận theo kết quả đầu ra và tác động lâu dài (Xianwen Wang và cộng sự, 2012; Barbara Good và cộng sự, 2015; Hanssen, 2018). Tại Việt Nam, tác giả tổng thuật các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Oanh (2015), Hồ Mạnh Dũng (2015), Nguyễn Hữu Đức (2016), đồng thời trích dẫn các đánh giá về bất cập vận hành tại Quỹ NAFOSTED từ Lê Văn Đức (2018), Trần Đình Phong (2017), Trần Trọng Dương (2017). Chương 1 khẳng định sự thiếu vắng của một nghiên cứu tích hợp đo lường chất lượng tài trợ NCCB bằng mô hình thực nghiệm trong bối cảnh Việt Nam.

Chương 2: Cơ sở lý luận về chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản

Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ: nghiên cứu cơ bản theo hướng dẫn Frascati của OECD; tài trợ công cho NCCB và các phương thức tài trợ (phân loại 4 mô hình của Lepori, 2010, trong đó mô hình tổ chức chủ quản hình phễu - Quỹ khoa học - là phổ biến nhất). Dựa trên lý thuyết của Bogue (1992) và Nguyễn Hồng Thắng (2010), tác giả thiết lập khung khái niệm và đề xuất hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng tài trợ NCCB gồm 6 tiêu chí: Sự phù hợp, Hiệu quả, Hiệu suất, Mức độ bền vững, Kết quả sau tài trợ, và Tác động. Chương này cũng phân tích 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng dựa trên lý thuyết các bên liên quan: Tổ chức tài trợ, Tổ chức chủ trì và Nhà khoa học. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết và các giả thuyết về mối quan hệ giữa 3 nhân tố này với chất lượng tài trợ NCCB, có xem xét vai trò phân loại của loại hình nghiên cứu (nghiên cứu thuần lý thuyết so với nghiên cứu có yếu tố thực nghiệm).

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 thiết lập quy trình nghiên cứu gồm các bước: xây dựng thang đo sơ bộ từ tổng quan tài liệu; phỏng vấn sâu chuyên gia (thành viên Hội đồng khoa học, lãnh đạo Quỹ NAFOSTED) để hoàn thiện bảng hỏi; tiến hành khảo sát thử nghiệm và điều tra chính thức với 700 chủ nhiệm đề tài KHTN&KT; trích xuất dữ liệu 6.424 công bố quốc tế từ Web of Science giai đoạn 2009-2019. Tác giả trình bày chi tiết quy trình phân tích định lượng bằng phần mềm IBM SPSS Statistics 20.0: kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha (loại biến có tương quan biến - tổng $< 0,3$), phân tích nhân tố khám phá EFA (tiêu chuẩn KMO, kiểm định Bartlett, Eigenvalue, Factor loading $\ge 0,5$), phân tích nhân tố khẳng định CFA (đánh giá độ phù hợp mô hình: CMIN/df, GFI, TLI, CFI, RMSEA) và phân tích hồi quy tuyến tính OLS.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 trình bày các phát hiện thực chứng từ dữ liệu điều tra và dữ liệu trắc lượng thư mục:

  • Kiểm định thang đo: Kiểm định CFA đã chuẩn hóa 6 tiêu chí đo lường chất lượng tài trợ NCCB với 24 thang đo đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ.
  • Đánh giá thực trạng chất lượng tài trợ NCCB (giai đoạn 2009-2019): Điểm đánh giá cảm nhận của các nhà khoa học theo thang điểm 5 cho thấy sự phân hóa giữa các tiêu chí:
Tiêu chí chất lượng tài trợ NCCB Điểm trung bình đánh giá (Thang 1 - 5) Đặc điểm ghi nhận từ dữ liệu
Mức độ bền vững 4,18 Đạt điểm cao nhất; khẳng định NCCB tạo nền tảng tri thức kế thừa và duy trì hướng nghiên cứu dài hạn.
Sự phù hợp Khá cao Mục tiêu tài trợ phù hợp với chiến lược phát triển KH&CN và chuẩn mực công bố quốc tế.
Kết quả sau tài trợ Khá 6.424 bài báo WoS; gia tăng vai trò tác giả chính (First Author, Corresponding Author) của người Việt Nam.
Tác động Trung bình - Khá Nâng cao năng lực nhóm nghiên cứu và đào tạo sau đại học; tác động kinh tế trực tiếp còn hạn chế do đặc thù NCCB.
Hiệu quả Trung bình Tỷ lệ đề tài nghiệm thu đạt chuẩn cao nhưng gặp rào cản về thủ tục hành chính và tài chính.
Hiệu suất Thấp nhất Tiến độ cấp kinh phí chậm trễ; định mức kinh phí cho vật tư tiêu hao thấp; không có danh mục đầu tư thiết bị.
  • Kết quả hồi quy các yếu tố ảnh hưởng: Mô hình hồi quy bội khẳng định cả 3 nhóm yếu tố (Tổ chức tài trợ, Tổ chức chủ trì, Nhà khoa học) đều tác động có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) đến chất lượng tài trợ NCCB. Trong mô hình tổng thể, yếu tố "Tổ chức tài trợ" có hệ số hồi quy lớn nhất, giữ vai trò chi phối mạnh nhất.
  • Phân tích theo loại hình nghiên cứu:
    • Đối với nghiên cứu thuần lý thuyết (Toán học, Vật lý lý thuyết...): Yếu tố "Nhà khoa học" có tác động lớn nhất đến chất lượng tài trợ.
    • Đối với nghiên cứu có yếu tố thực nghiệm (Hóa học, Khoa học vật liệu, Y sinh Dược học...): Yếu tố "Tổ chức tài trợ" tác động lớn nhất, do các nghiên cứu này phụ thuộc chặt chẽ vào quy mô kinh phí, tính kịp thời của giải ngân mua hóa chất, mẫu vật và trang thiết bị thực nghiệm.
  • Hạn chế và nguyên nhân thực tế: Chậm trễ trong cấp ngân sách từ Kho bạc; sự thiếu đồng bộ giữa cơ chế quản lý của Quỹ và Luật Ngân sách nhà nước; cơ chế tài chính tại các tổ chức chủ trì chưa tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nhiệm đề tài.

Chương 5: Khuyến nghị giải pháp nâng cao chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật ở Việt Nam

Chương 5 phân tích bối cảnh phát triển KH&CN trong nước và quốc tế, từ đó đề xuất 3 nhóm giải pháp căn cứ trên kết quả mô hình hồi quy:

  1. Nâng cao chất lượng tổ chức tài trợ (Quỹ NAFOSTED): Sửa đổi cơ chế cấp phát tài chính nhằm giảm thời gian trễ giải ngân; bổ sung danh mục chi cho trang thiết bị quy mô nhỏ và tăng định mức vật tư tiêu hao; đa dạng hóa phương thức tài trợ (tài trợ đề tài định hướng, tài trợ nghiên cứu tiềm năng, tài trợ nhóm nghiên cứu mạnh); hoàn thiện hệ thống biểu mẫu trực tuyến và quy trình thanh quyết toán không dùng chứng từ giấy.
  2. Nâng cao chất lượng tổ chức chủ trì: Tăng cường trách nhiệm quản lý và đồng hành của các viện, trường đại học; thành lập các bộ phận chuyên trách hỗ trợ thủ tục tài chính cho nhà khoa học; cung cấp không gian nghiên cứu và chia sẻ hạ tầng phòng thí nghiệm dùng chung.
  3. Nâng cao chất lượng nhà khoa học: Tăng cường bồi dưỡng năng lực xây dựng thuyết minh và quản lý đề tài theo chuẩn quốc tế; thúc đẩy văn hóa liêm chính học thuật, ngăn chặn hiện tượng chia nhỏ công trình ("xé lẻ" bài báo); đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu đa ngành và hội nhập mạng lưới học thuật quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Làm rõ nội hàm khái niệm chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản theo lý thuyết quản lý chất lượng dựa trên sứ mệnh và mục tiêu (Bogue, 1992): khẳng định chất lượng tài trợ là mức độ thỏa mãn các mục tiêu tài trợ trong phạm vi các chuẩn mực được thừa nhận công khai, khắc phục cách tiếp cận phiến diện trước đây chỉ quy về hiệu quả tài chính hoặc sản phẩm công bố đơn lẻ.
  2. Thiết lập và kiểm định thành công bộ tiêu chí đánh giá chất lượng tài trợ NCCB gồm 6 tiêu chí (Sự phù hợp, Hiệu quả, Hiệu suất, Mức độ bền vững, Kết quả sau tài trợ, Tác động) được cụ thể hóa thành 24 thang đo thông qua phân tích nhân tố khẳng định CFA.
  3. Chứng minh thực nghiệm mức độ ảnh hưởng của 3 nhóm nhân tố (Tổ chức tài trợ, Tổ chức chủ trì, Nhà khoa học) đến chất lượng tài trợ NCCB. Đặc biệt, luận án phát hiện vai trò điều tiết của loại hình nghiên cứu: đối với nghiên cứu thuần lý thuyết, nhân tố Nhà khoa học giữ vai trò quyết định; đối với nghiên cứu thực nghiệm, nhân tố Tổ chức tài trợ giữ vai trò quyết định.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng về chất lượng tài trợ NCCB trong lĩnh vực KHTN&KT tại Quỹ NAFOSTED giai đoạn 2009-2019 dựa trên kết hợp khảo sát 700 chủ nhiệm đề tài và phân tích trắc lượng thư mục 6.424 bài báo quốc tế Web of Science. Kết quả khẳng định tiêu chí "Mức độ bền vững" được đánh giá cao nhất (4,18/5 điểm), trong khi tiêu chí "Hiệu suất" chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi quy trình cấp phát kinh phí.
  2. Đề xuất hệ thống các giải pháp thực thi trực tiếp cho Quỹ NAFOSTED, Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ sở nghiên cứu nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế tài chính, quy trình cấp vốn và tiêu chí xét chọn đề tài.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Dữ liệu khảo sát và trắc lượng thư mục bị giới hạn trong phạm vi tài trợ công của Quỹ NAFOSTED đối với 8 ngành thuộc lĩnh vực Khoa học tự nhiên và Kỹ thuật giai đoạn 2009-2019, chưa bao quát các chương trình tài trợ cấp bộ, cấp cơ sở hoặc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn.
    • Các đánh giá định lượng phần lớn dựa trên cảm nhận của các chủ nhiệm đề tài thông qua bảng hỏi và các chỉ số trắc lượng thư mục bài báo từ cơ sở dữ liệu Web of Science.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi đánh giá sang các chương trình nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn, nơi có các đặc thù về chu kỳ nghiên cứu và hình thức công bố sản phẩm (sách chuyên khảo, báo cáo khuyến nghị chính sách).
    • Nghiên cứu so sánh hiệu quả giữa mô hình tài trợ Quỹ (NAFOSTED) và mô hình giao nhiệm vụ KH&CN truyền thống tại các bộ ngành.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp cơ sở dữ liệu và khung phương pháp luận phục vụ cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách (Bộ KH&CN, Quỹ NAFOSTED, các quỹ phát triển KH&CN địa phương): Tham khảo bộ 6 tiêu chí và 24 thang đo để thiết lập quy chuẩn đánh giá định kỳ các chương trình tài trợ; sử dụng kết quả về hạn chế giải ngân để kiến nghị sửa đổi quy định tài chính phù hợp với Luật Ngân sách nhà nước.
  • Tổ chức chủ trì (Viện hàn lâm, các trường đại học): Nhận diện các điểm nghẽn trong công tác phối hợp quản lý để cải tiến thủ tục thanh quyết toán và đầu tư phòng thí nghiệm.
  • Nghiên cứu sinh, giảng viên chuyên ngành Quản lý KH&CN và Chính sách công: Tham khảo quy trình phân tích kết hợp giữa trắc lượng thư mục (Bibliometrics) với các mô hình định lượng cấu trúc (Cronbach's Alpha, EFA, CFA, OLS) trong đánh giá chính sách công.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản được luận án xác định theo cơ sở lý thuyết nào?
Luận án xác định chất lượng tài trợ NCCB dựa trên lý thuyết chất lượng theo sứ mệnh và mục tiêu của Bogue (1992): "Chất lượng tài trợ NCCB chính là sự phù hợp với những tuyên bố về sứ mệnh và kết quả đạt được của mục tiêu tài trợ NCCB trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai", kết hợp lý thuyết đầu tư công trong chuỗi logic dự án của Nguyễn Hồng Thắng (2010).

2. Sáu tiêu chí đánh giá chất lượng tài trợ nghiên cứu cơ bản trong luận án là gì?
Sáu tiêu chí được chuẩn hóa gồm: (1) Sự phù hợp, (2) Hiệu quả, (3) Hiệu suất, (4) Mức độ bền vững, (5) Kết quả sau tài trợ, và (6) Tác động. Sáu tiêu chí này được đo lường thông qua 24 thang đo đã qua kiểm định CFA.

3. Tiêu chí nào đạt điểm đánh giá cao nhất trong khảo sát thực trạng giai đoạn 2009-2019?
Tiêu chí "Mức độ bền vững" đạt điểm đánh giá trung bình cao nhất từ các nhà khoa học với 4,18/5 điểm, phản ánh vai trò của NCCB trong việc tạo tiền đề cho các hướng nghiên cứu kế tiếp và duy trì phát triển nguồn nhân lực học thuật lâu dài.

4. Yếu tố nào ảnh hưởng mạnh nhất đến chất lượng tài trợ khi phân loại theo tính chất nghiên cứu?
Khi phân tích hồi quy theo loại hình nghiên cứu: đối với nghiên cứu thuần lý thuyết, yếu tố "Nhà khoa học" có tác động lớn nhất; ngược lại, đối với nghiên cứu có yếu tố thực nghiệm, yếu tố "Tổ chức tài trợ" có tác động lớn nhất do nhu cầu cấp thiết về kinh phí vật tư tiêu hao, hóa chất và phòng thí nghiệm.

5. Luận án đã sử dụng nguồn dữ liệu trắc lượng thư mục nào và quy mô bao nhiêu?
Luận án đã thu thập và phân tích dữ liệu trắc lượng thư mục của 6.424 bài báo khoa học quốc tế được công bố thuộc cơ sở dữ liệu Web of Science do Quỹ NAFOSTED tài trợ trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2019.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chất lượng tài trợ công cho nghiên cứu cơ bản dựa trên lý thuyết sứ mệnh - mục tiêu và chuỗi logic đầu tư công. Thông qua việc kết hợp các công cụ kiểm định thống kê đa biến (Cronbach's Alpha, EFA, CFA, hồi quy OLS) trên mẫu khảo sát 700 chủ nhiệm đề tài và kỹ thuật trắc lượng thư mục 6.424 công bố Web of Science, luận án đã xác lập bộ 6 tiêu chí đo lường chất lượng tài trợ và chứng minh sự chi phối của tổ chức tài trợ cũng