phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, và các phụ lục liên quan luận văn đƣợc trình bày trong 03 chƣơng chính: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lƣợng đội ngũ viên chức nghiệp vụ bảo hiểm xã hội. Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng đội ngũ viên chức nghiệp vụ tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ viên chức nghiệp vụ tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC NGHIỆP VỤ BẢO HIỄM XÃ HỘI 1.
Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm viên chức “Cán bộ”, công chức”, “viên chức” là các danh từ rất quen thuộc, đƣợc sử dụng nhiều trong lĩnh vực quản lý nhà nƣớc, hành chính sự nghiệp của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, phạm vi xác định công chức hoặc viên chức ở mỗi quốc gia lại có sự khác biệt do phụ thuộc vào thể chế chính trị, cách thức tổ chức bộ máy nhà nƣớc và sự khác nhau về lịch sử, văn hoá dân tộc của mỗi quốc gia. Trƣớc đây nƣớc ta không phân biệt công chức, viên chức mà xếp chung vào một nhóm là “cán bộ công chức viên chức”.
Thuật ngữ “viên chức” đƣợc nêu trong Hiến pháp năm 1992. Điều 8 Hiến pháp quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân…”. Nhƣ vậy, Hiến pháp quan niệm những ngƣời phục vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nƣớc bao gồm cán bộ, viên chức. Thuật ngữ “viên chức” đƣợc hiểu theo nghĩa rất rộng gồm tất cả những ngƣời trong biên chế của các cơ quan, tổ chức sự nghiệp của nhà nƣớc thực hiện các công việc của cơ quan, tổ chức đó.
Để thực hiện và cụ thể hóa Hiến pháp. Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 và đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2003 để phân biệt cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nƣớc với cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nƣớc. Theo đó, Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng, 11 quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp gọi tắt cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nƣớc là viên chức. Năm 2008, Quốc Hội thông qua Luật Cán bộ, Công chức và đến năm 2010, Quốc hội thông qua Luật Viên chức.
Luật Viên chức đƣợc Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012. Điều 2 Luật Viên chức quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Đội ngũ viên chức đƣợc hiểu là tổng số viên chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập. Đây là lực lƣợng lao động (cả số lƣợng và chất lƣợng) mà đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng để duy trì và phát triển hoạt động theo chƣơng trình, kế hoạch đề ra theo từng thời gian và đƣợc thực thi theo văn bản quy phạm pháp luật riêng của nhà nƣớc về Luật viên chức.
Khái niệm đội ngũ viên chức nghiệp vụ Bảo hiểm xã hội Nghiệp vụ là chỉ trình độ chuyên môn, kỹ năng, phƣơng pháp thực hiện công việc dựa theo đặc trƣng của công việc đó. Nghiệp vụ có thể dùng làm thƣớc đo năng lực của mỗi ngƣời trong khi thực hiện công việc đƣợc giao. Cũng có thể hiểu nghiệp vụ là cách thức tiến hành thực hiện một công việc có tính chất chuyên môn nhất định theo những kỹ năng học tập đƣợc. Mỗi công việc cụ thể đều có những nghiệp vụ riêng dựa theo đặc trƣng, tính chất của công việc đó.
Quyết định số 657/QĐ-BNV ngày 15/4/2015 của Bộ trƣởng Bộ Nội vụ về việc phê duyệt danh mục vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của BHXH Việt Nam, hệ thống vị trí việc làm của ngành BHXH đƣợc quy định nhƣ sau: 12 Theo Quyết định số 657/QĐ-BNV, khung danh mục vị trí việc làm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trực thuộc BHXH Việt Nam có 119 vị trí việc làm đƣợc chia ra: - Nhóm lãnh đạo, quản lý, điều hành gồm 28 vị trí việc làm. - Nhóm chuyên môn nghiệp vụ là 75 vị trí việc làm bao gồm: Ở BHXH Trung ƣơng là 46 vị trí việc làm; Ở BHXH cấp tỉnh là 22 vị trí việc làm; Ở BHXH cấp huyện là 7 vị trí việc làm. - Nhóm hỗ trợ, phục vụ là 16 vị trí việc làm. Cũng theo Quyết định số 657/QĐ-BHXH, trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã xác định chi tiết có tổng số 328 vị trí việc làm, đƣợc sắp xếp theo: - Nhóm Lãnh đạo BHXH ở Trung ƣơng.
- Nhóm 24 đơn vị thuộc cơ quan BHXH ở Trung ƣơng. - Nhóm cơ quan BHXH cấp tỉnh. - Nhóm cơ quan BHXH cấp huyện. Từ danh mục vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của BHXH Việt Nam.
Nghiệp vụ bảo hiểm xã hội có thể hiểu là việc thực hiện các kỹ năng, chuyên môn liên quan đến lĩnh vực BHXH nhƣ: Công tác thu BHXH, chi trả các chế độ BHXH, công tác giám định BHYT, công tác cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, công tác phát triển đối tƣợng tham gia BHXH, BHYT. Viên chức nghiệp vụ là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập chế độ hợp đồng làm việc; thực hiện công việc dựa theo đặc trƣng của công việc đó theo những kỹ năng học tập đƣợc và họ là những ngƣời chịu trách nhiệm đảm nhận các vị trí việc làm thuộc nhóm thu BHXH, chi trả các chế độ BHXH, công tác giám định BHYT, công tác cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, công tác phát triển đối tƣợng tham gia BHXH, BHYT. 13 Nhƣ vậy thì Đội ngũ viên chức nghiệp vụ bảo hiểm xã hội là tập hợp các lao động là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị bảo hiểm xã hội công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị đó theo quy định của pháp luật. Thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn của ngành bảo hiểm xã hội.
Chất lượng viên chức nghiệp vụ và nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức nghiệp vụ Bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm chất lượng đội ngũ viên chức nghiệp vụ Bảo hiểm xã hội Từ lâu khái niệm chất lƣợng có thể gắn với bất cứ thực thể nào nhƣ sản phẩm, dịch vụ, quá trình, hệ thống, tổ chức… Mức độ chất lƣợng có thể diễn đạt bằng các tính từ nhƣ xấu, trung bình, tốt, xuất sắc, tuyệt hảo… Nhƣ thế có thể thấy “chất lƣợng” là khái niệm đƣợc sử dụng rất thƣờng xuyên trong thực tiễn hàng ngày nhƣng dƣờng nhƣ đây lại là khái niệm rất khó hiểu và khó định nghĩa bởi tùy thuộc vào đối tƣợng sử dụng mà “chất lƣợng” lại đƣợc hiểu theo những nghĩa khác nhau. Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) thì định nghĩa “chất lƣợng là toàn bộ những tính năng và đặc điểm của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và tiềm ẩn”. Và ngƣời tạo nên chất lƣợng của sản phẩm, dịch vụ đó, xét trong phạm vi hẹp một tổ chức thì là tất cả lực lƣợng lao động của tổ chức đó.
Theo từ điển Tiếng Việt thì “Chất lƣợng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con ngƣời, sự vật, sự việc”. Theo tiêu chuẩn đo lƣờng chất lƣợng Việt Nam (TCVN-ISO 8402) định nghĩa: “Chất lƣợng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tƣợng) tạo cho thực thể (đối tƣợng) có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc 14 nhu cầu tiềm ẩn”. "Chất lƣợng hiểu ở nghĩa chung nhất là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con ngƣời, một sự vật, sự việc". Tùy vào lĩnh vực khác nhau với mục đích khác nhau mà có quan điểm khác nhau về chất lƣợng nhƣ: Theo Nguyễn Tiệp thì “Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt sau đây: Sức khỏe; Trình độ văn hóa; Trình độ chuyên môn kỹ thuật (Cấp trình độ được đào tạo); Năng lực thực tế về chi thức kỹ năng nghề nghiệp (khả năng thực tế về chuyên môn - kỹ thuật); Tính năng động xã hội (khả năng sáng tạo, thích ứng, linh hoạt, nhanh nhạy với công việc và xã hội; mức độ sẵn sàng tham gia hoạt động.); Phẩm chất đạo đức tác phong, thái độ với công việc và môi trường làm việc; Hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực; Thu nhập, mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (nhu cầu vật chất và tinh thần) của người lao động” [31,tr9] Còn theo quan điểm Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh thì chất lƣợng NNL đƣợc hiểu nhƣ sau: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực”[6, tr55].
Theo Phùng Rân thì chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc đo bằng 2 tiêu chí: “là năng lực hoạt động của NNL và phẩm chất đạo đức của NNL đó” [25,tr 2]. Năng lực hoạt động có đƣợc thông qua đào tạo, qua huấn luyện, qua thời gian làm việc đƣợc đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và kỹ năng giải quyết công việc. Phẩm chất đạo đức là khả năng giám nghĩ, giám làm, giám chịu trách nhiệm và khó có tiêu chí nào làm thƣớc đo để đánh giá phẩm chất đạo đức của NNL. Từ những quan điểm trên, ta có thể hiểu Chất lƣợng đội ngũ viên chức nghiệp vụ BHXH là trạng thái nhất định của đội ngũ viên chức nghiệp vụ BHXH, là tố chất, bản chất bên trong của đội ngũ viên chức nghiệp vụ 15 BHXH, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ mức sống, dân trí của dân cƣ.
Chất lƣợng đƣợc thể hiện bằng thể lực, trí lực, tâm lực của viên chức nghiệp vụ BHXH.