Chương 1: Cơ sở lý luận về bồi dƣỡng nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên dạy nghề. + Chương 2: Thực trạng đội ngũ giáo viên tại trƣờng Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ. + Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên trƣờng Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƢỠNG NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ 1.1 Sơ lƣợc lịch sử vấn đề nghiên cứu .1 Về đào tạo nghề Cùng với quá trình phát triển về mọi mặt của đời sống KT-XH, hệ thống giáo dục nói chung cũng nhƣ trong lĩnh vực đào tạo nghề nói riêng luôn luôn đƣợc hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm phát triển và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về phát triển nguồn nhân lực, tham gia lao động trực tiếp tạo ra những giá trị kinh tế cho xã hội.
Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học và công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa, cũng nhƣ sự ra đời của nền kinh tế tri thức, yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực càng cao. Ở tất cả các nƣớc trên thế giới, bất luận là nƣớc giàu hay nghèo, hay ở châu lục nào, thì hệ thống giáo dục nói chung, công tác đào tạo nghề nói riêng luôn có vai trò quyết định đến việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dƣỡng nhân tài và qua đó nâng cao vị thế và trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Cùng với sự phát triển của đất nƣớc, hệ thống dạy nghề cũng lớn mạnh lên, đội ngũ giáo viên dạy nghề nƣớc ta đã tỏ rõ bản lĩnh vững vàng về chính trị, ý thức đƣợc vai trò sứ mệnh lịch sử của mình là góp phần đào tạo cho đất nƣớc nguồn lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các cấp trình độ khác nhau, có đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, có ý thức, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, có năng lực ngoại ngữ, có tri thức xã hội. đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH, củng cố an ninh quốc phòng.
Để hoàn thành sứ mệnh của mình, đội ngũ giáo viên dạy nghề đã phải vƣợt qua mọi khó khăn, trở ngại, làm việc tận tụy để truyền thụ tri thức cho học sinh, sinh viên những kiến thức chung, hiểu biết về pháp luật, chính trị, xã hội… và chuyên môn nghề nghiệp nhƣ lý thuyết nghề, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên. Vì thế, học sinh, sinh viên sau khi học xong dễ dàng thích nghi với sự thay đổi của đời sống xã hội. 7 Hiện nay, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, đội ngũ giáo viên dạy nghề đã ngày càng phát triển về số lƣợng, phù hợp về cơ cấu ngành nghề, không ngừng nâng cao năng lực. Đa phần giáo viên dạy nghề hiện có đủ trình độ chuyên môn, trình độ kỹ năng nghề, năng lực sƣ phạm, khả năng hiểu biết thực tế, trình độ tin học, ngoại ngữ, khả năng nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, phƣơng pháp giảng dạy mới vào quá trình đào tạo và ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực.
Để khuyến khích giáo viên dạy nghề yên tâm, say mê nghề nghiệp; nâng cao nhận thức chính trị, tƣ tƣởng, đạo đức phẩm chất, tác phong, lối sống và năng lực chuyên môn, Đảng và Nhà nƣớc đã kịp thời ban hành nhiều chế độ, chính sách nhằm xây dựng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên dạy nghề; các cấp các ngành đã có nhiều biện pháp khác nhau tiếp tục xây dựng đội ngũ giáo viên dạy nghề vững mạnh, trong sạch, có chất lƣợng cao, bảo đảm giáo viên dạy nghề là lực lƣợng có vai trò quyết định tới chất lƣợng đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp, thị trƣờng lao động trong và ngoài nƣớc. Đến nay cả nƣớc đã có 158 Trƣờng Cao đẳng nghề (117 trƣờng công lập, 41 trƣờng ngoài công lập), 304 Trƣờng Trung cấp nghề (205 trƣờng công lập, 99 trƣờng ngoài công lập) và 870 Trung tâm dạy nghề và 212 Trƣờng THCN, CĐ, ĐH có dạy nghề, hàng năm đã đào tạo đƣợc khoảng 1,5 -1,6 triệu lao động. Tuy nhiên vẫn chƣa đáp ứng nhu cầu về số lƣợng, chất lƣợng, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu trình độ đào tạo theo yêu cầu của thị trƣờng lao động. Vì thế nâng cao chất lƣợng đào tạo, phát triển quy mô, mở rộng ngành nghề đào tạo là yêu cầu cấp bách cho các cơ sở dạy nghề hiện nay.2 Về vấn đề nghiên cứu giáo viên ở nước ngoài.
Ở các quốc gia phát triển, hệ thống kinh tế dựa trên sự tăng trƣởng mạnh mẽ và bền vững ở những lĩnh vực dịch vụ, giáo dục, nghiên cứu phát triển và các lĩnh vực công nghệ thông tin, tự động hoá, vật liệu mới, sinh học v. Hầu hết lãnh đạo các nƣớc trên thế giới đều cho rằng, sự phát triển nhanh chóng về số lƣợng và chất lƣợng 8 giáo dục là một nhân tố then chốt để phát triển đất nƣớc. Giáo dục càng hoàn thiện, đất nƣớc càng phát triển nhanh. Các nƣớc đang phát triển và phát triển đều coi giáo dục là vấn đề chiến lƣợc là đòn bẩy phát triển kinh tế và xã hội.
Chúng ta đang ở vào thời kỳ có nhiều biến đổi sâu sắc và nhanh chóng chƣa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Trƣớc những thách thức và yêu cầu của thời đại mới - thời đại của sự phát triển dựa chủ yếu vào nguồn lực thông tin và tri thức với xu thế toàn cầu hóa lôi cuốn sự hội nhập của mọi quốc gia, các nƣớc trên thế giới, ở mức độ khác nhau, đều thực hiện những thay đổi có tính cách mạng trong GD-ĐT. Ngay từ những năm 80 và 90 của thế kỷ XX, một làn sóng cải cách giáo dục đã diễn ra trên thế giới, trƣớc tiên là ở các nƣớc công nghiệp phát triển. Nƣớc Mỹ đã đề ra chƣơng trình cải cách giáo dục 10 điểm để chuẩn bị hành trang cho ngƣời Mỹ tiến vào nền kinh tế tri thức cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, gần đây lại đƣa ra chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực cho kỷ nguyên thông tin - cốt lõi chủ yếu của nền kinh tế tri thức.
Liên minh châu Âu gồm 27 nƣớc đã thống nhất đổi mới hệ thống giáo dục, coi việc xây dựng không gian giáo dục và đại học châu Âu, không gian nghiên cứu châu Âu, không gian tri thức châu Âu là nền tảng cho sự tăng trƣởng mới nhằm biến châu Âu thành một nền kinh tế tri thức hiệu quả nhất trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa trong thế kỷ XXI. Giáo dục là một vấn đề vô cùng quan trọng, đó là nền tảng cho việc hoàn thiện con ngƣời và tăng trƣởng kinh tế đất nƣớc. Chính vì vậy vấn đề nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên đang đƣợc các quốc gia và Việt Nam đặc biệt quan tâm bởi lẽ “Giáo viên là người giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục” [17 ] 1.1 Đào tạo giáo viên ở Hoa Kỳ Mô hình đào tạo giáo viên ở Hoa Kỳ có thời gian 4 hoặc 5 năm và thực hành giảng dạy ở chƣơng trình đào tạo 5 năm đƣợc đánh giá là nhiều và tốt hơn. Mô hình đào tạo song song và cả nối tiếp cho giáo viên các trƣờng dạy nghề, giáo dục nghề nghiệp…Khả năng chuyên môn của giáo viên đƣợc kiểm định qua 1 bài kiểm tra cụ thể 9 hoặc học qua chƣơng trình đào tạo đƣợc Ủy ban kiểm định chất lƣợng giáo viên duyệt.
Tại California, bang hỗ trợ đào tạo tập huấn cho giáo viên trong quá trình tập sự để tham dự kỳ thi cấp phép giảng dạy cho giáo viên. Bồi dƣỡng giáo viên ở Hoa Kỳ do các bang, trƣờng thực hiện. Bộ tiêu chuẩn chất lƣợng các trƣờng trung cấp nghề của Ủy ban các cơ sở dạy nghề và kỹ thuật (CTIT - Commission on Technical and Career Institutions) thuộc Hiệp hội các trƣờng học và cao đẳng vùng New England có 12 tiêu chuẩn và 135 tiêu chí, trong khi Tổ chức Kiểm định chất lƣợng các trƣờng đào tạo nghề (Accrediting Commission of Career Schools and Colleges – ACCSC) đặt ra 9 tiêu chuẩn khác nhau với khoảng 50 tiêu chí và nhiều chỉ báo chi tiết.2 Về hệ thống và mô hình đào tạo giáo viên ở CHLB Đức Bộ Giáo dục Văn hóa chịu trách nhiệm về đội ngũ giáo viên, các trƣờng và địa phƣơng chịu trách nhiệm về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. Lƣơng giáo viên của Đức đứng thứ 3 trên thế giới.
Giáo dục nghề nghiệp của Đức chủ yếu là các trƣờng dạy nghề chuyên nghiệp, thời gian học ngắn, chỉ khoảng 1 năm theo mô hình song hành. Chất lƣợng đào tạo ở các trƣờng này rất tốt, chủ yếu theo mô hình song hành. Tại Đức, các bang đều có chuẩn đào tạo giáo viên. Chuẩn gồm 4 lĩnh vực năng lực là dạy học, giáo dục, đánh giá, đổi mới và phát triển.
Trƣớc năm 2000, giáo viên Đức đƣợc đào tạo trong các trƣờng Đại học Sƣ phạm nhƣng sau năm 2000, giáo viên đƣợc đào tạo trong các trƣờng đại học đa ngành và thực hiện theo tiêu chuẩn Châu Âu. Bồi dƣỡng giáo viên do các bang và trƣờng thực hiện với nhiều chƣơng trình, nhiều cấp độ bồi dƣỡng đa dạng, có hệ thống tƣ vấn hỗ trợ, có mạng bồi dƣỡng trên internet.3 Đào tạo giáo viên tại Anh Tại Anh, giáo viên có 5 loại: giáo viên tập sự, giáo viên, giáo viên chính, giáo viên giỏi và giáo viên cao cấp. Có chuẩn nghề nghiệp giáo viên cho cả 5 loại trên với khung chuẩn gồm 3 lĩnh vực: đặc điểm chuyên ngành, kiến thức và kỹ năng chuyên ngành. Chuẩn giảng dạy do các phòng chuẩn giáo dục xây dựng và thực hiện.
Ở Anh có 73 trƣờng đại học cung cấp chƣơng trình đào tạo giáo viên và có nhiều chƣơng trình 10 hỗ trợ cho giáo viên để phát triển năng lực nghề nghiệp và chuyên môn sƣ phạm, bồi dƣỡng giáo viên qua đánh giá giáo viên; đào tạo giáo viên sau đại học. Ở các nƣớc phƣơng Tây, việc thiết kế hệ thống đảm bảo chất lƣợng đƣợc tính đến nhƣ là bƣớc đầu tiên trong quá trình đảm bảo và cải tiến chất lƣợng (Kells, 1988; Neave & Van Vaught, 1991).4 Hệ thống giáo dục của Úc Đào tạo giáo viên của Úc thay đổi qua nhiều thời kỳ và các chƣơng trình đào tạo giáo viên đa dạng, linh hoạt theo nhu cầu đào tạo và chú trọng nghiên cứu, đổi mới các phƣơng pháp giáo dục và học tập trong đào tạo giáo viên.