Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀTRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP 1. Nghiên cứu ngoài nước Mối quan hệ giữa nhà trường với doanh nghiệp được hình thành từ rất lâu và được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng, điển hình như: Đức, Pháp, Na Uy, Singapore, …Mối quan hệ này thông qua các mô hình đào tạo và đã mang lại những lợi ích to lớn cho cả phía nhà trường và doanh nghiệp. Mô hình “đào tạo kép” của Cộng hòa Liên Ban Đức là đào tạo nghề được tiến hành song song giữa nhà trường (NT) doanh nghiệp với doanh nghiệp, sự kết hợp giữa việc học trong môi trường có sự gần gũi với thực tế sản xuất của doanh nghiệp và một cơ sở có năng lực chuyên môn về sư phạm, nghiệp vụ dạy nghề. Theo đó, phía doanh nghiệp tập trung cung cấp các kiến thức và kỹ năng thực tế, còn nhà trường cung cấp khối kiến thức lý thuyết về cơ bản.
Người học được trang bị các kiến thức và kỹ năng cơ bản tại các trường nghề, sau đó họ được rèn luyện và phát triển kỹ năng nghề nghiệp tại các cơ sở sản xuất. Doanh nghiệp được phép tham gia rộng rãi vào hoạt động đào tạo nghề thông qua các quy định của nhà nước được thể hiện cụ thể trong luật dạy nghề. Theo Bộ Luật đào tạo nghề của Đức, quy định những điều lệ rất chi tiết và tích cực, trong đó luật nhấn mạnh trách nhiệm của xã hội đối với việc đào tạo nghề. Bộ Luật còn là cơ sở pháp lý cho hệ thống đào tạo kép thành hệ thống tiêu chuẩn chất lượng dạy nghề ở Cộng Hòa Liên Ban Đức.
Chi phí đào tạo do chính quyền bang trả cho phần học tại trường theo chương trình, còn các doanh nghiệp trả chi phí trực tiếp cho việc đào tạo thực hành tại DN với mức trung bình 2 - 3% tổng quỹ tiền lương cho đào tạo ban đầu [7]. 8 Mô hình hợp tác này có cơ chế quản lý là chính quyền Bang chịu trách nhiệm quản lý trường nghề và chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm quản lý đào tạo nghề tại DN. Việc dạy nghề tại DN đều do các DN trực tiếp tổ chức, song việc kiểm soát là do Công đoàn cùng với sự tham gia của các quan sát viên và hội đồng công nhân tại doanh nghiệp thực hiện. Công đoàn tham gia vào mọi công đoạn của hệ thống đào tạo kép trong doanh nghiệp từ quá trình lựa chọn HS cho đến duy trì một chương trình học hiện đại, kiểm soát chất lượng và bảo vệ công nhân khỏi nguy cơ như bị trả lương thấp hoặc không được đào tạo đầy đủ.
Mặt khác, mô hình hợp tác đào tạo nghề kép còn được thực hiện theo những quy chế do Chính phủ Liên bang quy định, như quy định theo nhu cầu cung cấp vị trí đào tạo của các DN. Các DN được quyết định số lượng công nhân được đào tạo và đào tạo theo chuyên ngành nào, DN được quyền tự lựa chọn các ứng viên được tham gia đào tạo. Mô hình đào tạo kép đã khẳng định được tính ưu việt của nó, bởi người học được rèn luyện kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp và năng lực nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu DN. Vì vậy, trong những năm gần đây có rất nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng mô hình này cho đào tạo nghề, như: Phần Lan, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ… Hệ thống dạy nghề tại Pháp thì rất đa dạng, sự chuyên môn hóa được chú trọng rất nhiều nhằm trang bị cho người lao động đi vào thực tế sản xuất, Nước Pháp có mô hình “đào tạo luân phiên” (Alternation) [19].
Mô hình này Pháp đã áp dụng rất thành công, hiệu quả trong việc đào tạo nhân lực lao động qua sự phối hợp của trường học và DN, người học học các phần cơ bản, đại cương, lý thuyết chuyên môn, thực hành cơ bản tại trường do GV của trường thực hiện, thực tập sản xuất được tiến hành tại DN với sự tham gia của cán bộ, nhân viên của DN. Việc thi, kiểm tra, tốt nghiệp thực hiện tại trường, thi thực hành, kiểm tra tay nghề được tiến hành tại DN. Theo mô hình đào tạo luân phiên, người học được linh hoạt lựa chọn nội dung học, nội dung chương trình được phân 9 chia thành từng khóa học, tiếp thu kiến thức rất chuyên sâu do nội dung được chia thành những phần nhỏ, kéo dài trong toàn bộ thời gian học. Với mô hình này, cơ chế chủ yếu nhằm duy trì cũng như tác động chính đến quan hệ giữa NT và DN là cơ chế về lợi ích tài chính, DN khi sử dụng học viên đã tốt nghiệp phải nộp cho trường đào tạo hoặc cho nhà nước một khoản thuế (thuế học nghề) bằng 0,5% quỹ lương của doanh nghiệp.
Trong đó, 0,2% cho NT và 0,3% cho cán bộ DN tham gia đào tạo nghề. DN và thị trường lao động đặc biệt quan tâm và tin tưởng vào chất lượng đào tạo của mô hình này. Các xí nghiệp sản xuất rất quan tâm và ủng hộ người học thực tập tại nhà máy [19]. Khi nghiên cứu và bàn về lợi ích của hoạt động liên kết đào tạo, tổ chức Cedefop (European Centre for the Development of Vocational Training – Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề châu Âu), cũng như các tác giả: Kathrin Hoeckel; Rita Nikolai và Christian Ebner.
đã có những kiến giải khá toàn diện về lợi ích mang lại cho các bên tham gia thông qua con đường hợp tác đào tạo giữa NT với DN [20]. Đặc biệt, từ năm 2005 đến năm 2009, Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề châu Âu (Cedefop) đã triển khai nghiên cứu về lợi ích liên kết đào tạo với DN theo nhiều hướng khác nhau tại 21 quốc gia châu Âu như: Cộng hoà Séc, Đan Mạch, Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Cộng hoà Séc, Latvi, Hungary, Hà lan, Austria, Ba lan, Bồ đào nha, Romania, Slovenia, Slovakia, Phần lan, Thụy điển và Vương quốc Anh cũng như Nauy và Iceland. Kể từ đó khẳng định: 2 nhóm lợi ích chính mà chương trình liên kết đào tạo nghề đem lại là: Lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. Cả 2 nhóm lợi ích đều được phân tích cụ thể qua 3 cấp độ: Cấp độ vi mô (lợi ích của cá nhân); Cấp độ trung gian (lợi ích của DN); Cấp độ vĩ mô (lợi ích của xã hội).
Ngoài ra, các thành viên của trung tâm Cedefop cũng rất quan tâm đến yếu tố tiền lương và cơ hội việc làm. Theo họ, đây là những yếu tố tạo nên thành công của quan hệ hợp tác đào tạo [20]. Từ những phân tích trên cho thấy, mối quan hệ giữa nhà trường và doanh 10 nghiệp tại các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển là mối quan hệ bình đẳng, hai bên cùng có lợi, chứ không phải là mối hỗ trợ từ một phía. Tại các nước này, các cơ sở đào tạo, đặc biệt là các trường có tầm cỡ, đồng thời cũng là những trung tâm sáng tạo với những phát minh sáng chế quan trọng, nơi hội tụ những tài năng lớn và đội ngũ nghiên cứu chuyên nghiệp, được nhà nước đầu tư đáng kể về phòng thí nghiệm, trang thiết bị để thực hiện những công trình nghiên cứu quan trọng.
Tận dụng nguồn lực này để giải quyết những vần đề riêng của mình qua những hợp đồng khoa học công nghệ chắc chắn sẽ mang lại những lợi ích kinh tế cao hơn so với việc từng doanh nghiệp tự đầu tư để thực hiện. Nhưng mối quan hệ thuận lợi giữa nhà trường và doanh nghiệp tại các nước này không phải tự nhiên mà có. Mặc dù không lộ diện, nhưng trong mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp luôn có sự hiện diện của nhà nước, của chính quyền địa phương thông qua hệ thống cơ chế chính sách và môi trường pháp lý. Đó chính là mô hình “vòng xoắn ba” (triple helix) gồm: Nhà trường - Doanh nghiệp - Nhà nước.
Nghiên cứu trong nước Mô hình cho liên kết đào tạo tại DN ở Việt Nam hiện nay thực hiện theo hai dạng như : Dạy nghề phối hợp giữa cơ sở đào tạo và DN (doanh nghiệp – thực hiện theo cơ sở đào tạo): Đây là mô hình đào tạo theo địa chỉ, có kỹ năng chuyên sâu, lao động được phân phối, phân công theo nguyên tắc tuân thủ chấp hành [8]; Dạy nghề tại xí nghiệp, dạy nghề tại nơi làm việc (thực hiện tại DN): Là mô hình đào tạo theo hợp đồng, cam kết, có kỹ năng phù hợp và lao động tự chịu trách nhiệm [5]. Đáng chú ý là mô hình tổ chức hợp tác đào tạo giữa NT với DN trong Khu công nghiệp của các Trường Dạy nghề Việt Nam - Singapore (tại khu công nghiệp Việt Nam - Singapore). Theo đó, NT chịu trách nhiệm về hạ tầng cơ sở, tuyển dụng đội ngũ, cung cấp kinh phí hoạt động thường xuyên, Chính phủ Singapore cung cấp chương trình đào tạo, máy móc thiết bị, tổ chức đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ GV, cử chuyên gia cùng quản lý điều hành hoạt động, khu công nghiệp Việt 11 Nam-Singapore hỗ trợ các chi phí phục vụ công tác quản lý, trang bị văn phòng, bố trí việc làm cho người học khi tốt nghiệp [5]. Tại Trường CĐN Dung Quất: Trường không tuyển sinh tràn lan mà tuyển theo đơn đặt hàng của các DN, tập trung đào tạo các ngành mà các DN đang cần, trường nhận được sự hỗ trợ đắc lực từ phía DN như cung cấp trang thiết bị, chịu trách nhiệm hướng dẫn thực tập cho HSSV trong học kỳ DN của chương trình đào tạo [5].
Khu công nghiệp với các tập đoàn kinh tế lớn có nhu cầu nhân lực cao là môi trường thuận lợi cho các CSĐT. Đào tạo nhân lực tại chỗ, đào tạo theo địa chỉ, đào tạo gắn với việc làm trở thành chất xúc tác quan trọng kết dính giữa CSĐT với DN. Trên thực tế, các CSĐT trong khu công nghiệp nói chung, trong trường nghề nói riêng đã có quan hệ gắn kết với DN trên các phương diện: Liên kết trong tuyển sinh; Liên kết về xây dựng nội dung chương trình; Liên kết về nguồn lực; Liên kết về giải quyết việc làm cho SV sau tốt nghiệp. Tuy bước đầu thành công song mô hình trong QHHT đào tạo với DN trên chưa được nhân rộng vì nhiều lý do khách quan như: Phần lớn DN Việt Nam chưa đủ mạnh để thành lập CSĐT thuộc DN cũng như CSĐT không đủ năng lực thành lập DN trong CSĐT; Cơ chế chính sách quy định trách nhiệm, quyền lợi của DN trong đào tạo nhân lực chưa đầy đủ, chưa phát huy hiệu lực,.
đã tác động không nhỏ đến mối quan hệ hợp tác của DN [5].