lời mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng biểu, hình vẽ và tài liệu tham khảo, khóa luận được kết cấu theo ba chương: 4 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Á Châu - chi nhánh Hà Nội. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Á Châu - chi nhánh Hà Nội. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.
Một số vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Tuỳ theo mục đích thành lập doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp có mục đích hoạt động khác nhau nhưng trừ một số ít các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích còn mục đích của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại, phát triển và cạnh tranh lẫn nhau. Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, người ta thường dựa theo những tiêu thức khác nhau để phân loại các doanh nghiệp. Cụ thể bao gồm: - Dựa vào quan hệ sở hữu về vốn và tài sản thì gồm có: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần và doanh nghiệp tư nhân. - Dựa vào mục đích kinh doanh thì bao gồm: Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích.
- Và đặc biệt, tiêu thức hay được sử dụng để phân loại là dựa theo quy mô kinh doanh thì doanh nghiệp được chia ra, bao gồm: Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Ở các quốc gia trên thế giới hiện nay, dù là những nước đang phát triển hay những nước phát triển, số lượng các DNVVN ngày càng tăng lên đáng kể. Theo cơ quan quản lý DNVVN thì DNVVN chiếm tới 90% số lượng doanh nghiệp trên thế giới và 40- 50% GDP của các nước. Trong khi đó ở Việt Nam, tỷ trọng DNVVN chiếm khoảng 97% trên tổng số doanh nghiệp được thành lập.
Đây là bộ phận năng động, có hiệu quả nhất trong nền kinh tế. Hiện nay, hoạt động của các DNVVN đóng góp hơn 6 40% GDP, chiếm 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp 15% tổng thu ngân sách của quốc gia. Đối với Việt Nam, tiêu chí phân loại DNVVN được quy định tại Khoản 1, Điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ-CP ban hành ngày 30/06/2009 của Chính Phủ về trợ giúp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ: “DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: Siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” cụ thể như sau: Bảng 1. 1: Phân chia cấp DNVVN theo nguồn vốn và số lƣợng lao động Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Quy mô Số lao động Tổng Số lao động Tổng Số lao động Khu vực nguồn vốn nguồn vốn Nông, lâm, 10 người trở 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 ngƣ nghiệp xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến và thủy sản 200 người 100 tỷ 300 người Công 10 người trở 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến xây dựng 200 người 100 tỷ 300 người Thƣơng 10 người trở 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 50 mại và dịch xuống trở xuống người đến 50 tỷ đồng đến người đến vụ người 50 tỷ 100 người (Nguồn: khoản 1 điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009) Như vậy, thông qua quá trình tìm hiểu trên, ta có thể hiểu: “DNVVN là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tƣ cách pháp nhân, kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính 7 theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu đƣợc từng thời kỳ của từng quốc gia”.
Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ Đa dạng về loại hình sở hữu DNVVN tồn tại và phát triển ở mọi hình thức khác nhau như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã. Điều này giúp đa dạng hóa các loại hình sản phẩm, dịch vụ trong nền kinh tế. Đồng thời cũng tạo cơ hội việc làm cho tất cả mọi thành phần lao động, thỏa mãn có sự khác nhau về độ tuổi, giới tính, trình dộ học vấn… của lao động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tính năng động và linh hoạt cao Các DNVVN có mức đầu tư ban đầu thấp, sử dụng ít lao động và tận dụng các nguồn lực tại chỗ.
Do đó, các DNVVN có thể dễ dàng chuyển đổi phương thức sản xuất, chuyển đổi mặt bằng kinh doanh, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp và thậm chí dễ dàng giải thể doanh nghiệp.Vì vậy, các DNVVN sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực mới hoặc lĩnh vực có mức độ rủi ro cao. Có năng lực tài chính thấp Tại các DNVVN ở Việt Nam, vốn ban đầu để thành lập doanh nghiệp thường là vốn chủ sở hữu của các chủ doanh nghiệp, thường là cá nhân nên năng lực tài chính có hạn. Vì thế trong quá trình sản xuất kinh doanh thường gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn, do đó họ phải tìm kiếm nhiều nguồn khác nhau như: Vay vốn của người thân, bạn bè. Bởi vậy nên nguồn vốn của doanh nghiệp thường nhỏ, lẻ và thời gian vay mượn ngắn hạn, đây chính là hạn chế lớn nhất của DNVVN.
Điều này gây cho các doanh nghiệp thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị. Còn nhiều hạn chế trong khả năng quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN 8 Các chủ doanh nghiệp thường là những lao động phổ thông, kỹ thuật viên, kỹ sư tự đứng ra thành lập và vận hành doanh nghiệp. Phần lớn những người chủ doanh nghiệp đều không được đào tạo qua một khoá quản lý chính quy nào, thậm chí có người còn chưa qua một khoá đào tạo nào. Họ vừa quản lý doanh nghiệp vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý chưa cao.
Tuy nhiên, mặc dù trình độ quản lý còn thấp nhưng họ cũng không quan tâm nhiều đến việc đào tạo để nâng cao năng lực quản lý doanh nghiệp. Do đó, khả năng quản lý, điều hành các DNVVN hiện nay của các chủ doanh nghiệp thường không được đánh giá cao và bị cho là yếu thế hơn so với các doanh nghiệp nước ngoài. Khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng Nguyên nhân là do các DNVVN thiếu tài sản đảm bảo, sổ sách, chứng từ kế toán không rõ ràng minh bạch, chưa có uy tín trên thị trường. Đặc biệt là rất nhiều doanh nghiệp hiện nay trốn không đóng thuế cho Nhà nước bằng cách làm sai sổ sách kế toán sao cho trên báo cáo hàng năm lợi nhuận thu được của các doanh nghiệp có thể giảm xuống thấp nhất có thể.
Chính lý do này đã làm giảm không ít khả năng tiếp cận vốn từ các ngân hàng thương mại của các DNVVN. Do vậy, họ thường sử dụng nguồn vốn vay từ bạn bè, người thân để có vốn kinh doanh. Có mối liên hệ chặt chẽ với các chủ thể khác trong nền kinh tế DNVVN có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại tất yếu khách quan trong nền kinh tế mỗi nước. Nó là bộ phận hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn.
Thị trường mục tiêu của các DNVVN là “thị trường ngách” nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp lớn trong việc tiếp cận thị trường, cân đối cung cầu trong xã hội. Với vai trò là một kênh phân phối hiệu quả, các DNVVN vừa cung cấp các yếu tố đầu vào vừa là thị trường tiêu thụ sản phẩm. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước. DNVVN không chỉ có vai trò là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, tạo công ăn việc làm, góp phần tăng trưởng kinh tế mà còn có vai trò rất quan trọng trong chuyển dịch 9 cơ cấu kinh tế, tiến hành công nghiệp hoá đất nước, xóa đói giảm nghèo, giải quyết những vấn đề xã hội.
Góp phần tăng trƣởng kinh tế và ổn định xã hội Chiếm 97% trên tổng số doanh nghiệp cả nước, các DNVVN hiện đang đóng góp hơn 40% GDP, chiếm 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp 15% tổng thu ngân sách. Vì vậy, việc phát triển các DNVVN đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Hoạt động đa năng và bao trùm hầu hết các lĩnh vực kinh tế, DNVVN đã và đang cung cấp một khối lượng lớn hàng hoá, dịch vụ đáng kể cho nền kinh tế. Với những ưu thế về ngành nghề, tính nhạy cảm thị trường cao, các DNVVN có nhiều lợi thế trong việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước và ngoài nước.
Các DNVVN cũng đóng một phần vào kim ngạch xuất nhập khẩu. Một số ngành nghề có lợi thế xuất khẩu như: Nông sản, thuỷ hải sản, thủ công mỹ nghệ… đều do các DNVVN sản xuất. Từ đó tạo nguồn thu nhập ổn định cho dân cư. Tạo việc làm và thu nhập cho ngƣời lao động, giúp làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế Chiếm ưu thế về số lượng, DNVVN đã và đang thu hút một lượng lớn lao động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Thông thường nguồn lao động chiếm tỷ lệ khoảng 50% trong tổng số lao động trong nền kinh tế. Các DNVVN chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực thương mại - dịch vụ nên nhu cầu lao động nhiều. Đồng thời, nhiều doanh nghiệp lớn hoạt động kinh doanh không có hiệu quả, việc giảm bớt biên chế là khó tránh khỏi nhằm giảm bớt chi phí hoạt động. Do vậy, lượng lao động dư thừa từ các doanh nghiệp lớn lại chính là nguồn cung lao động cho các DNVVN.