CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, được tổ chức hoạt động bởi các cá nhân, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường (nhưng phải tuân theo pháp luật), nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau mà người ta có thể chia doanh nghiệp thành các loại khác nhau. DNVVN là loại hình phổ biến trong nền kinh tế ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nói đến DNVVN là nói đến cách phân loại doanh nghiệp dựa trên quy mô của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa, tiêu chuẩn chung nào cho việc phân định ranh giới quy mô doanh nghiệp.
Bởi vì, mỗi quốc gia có một điều kiện tự nhiên cũng như điều kiện kinh tế khác nhau, có những đặc trưng riêng biệt, và tùy theo đó để có phương pháp cụ thể xác định quy mô doanh nghiệp trong nền kinh tế sao cho thích hợp với nền kinh tế nước mình. Hơn nữa, việc xác định thế nào là một DNVVN của một nước cần được cân nhắc, xem xét với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, tình hình làm việc nói chung và tính chất của nền kinh tế hiện hành của nước đó. Một doanh nghiệp đặt trong môi trường kinh tế nước này có thể là DNVVN, nhưng nếu đặt trong môi trường kinh tế của một quốc gia khác lại là doanh nghiệp lớn hay thậm chí cũng có thể là doanh nghiệp cực nhỏ. Tại thời điểm đang xét, doanh nghiệp có thể được coi là vừa, nhưng tại thời điểm nào đó trong quá khứ, nó lại được xem là doanh nghiệp lớn.
Do đó, việc xác định quy mô DNVVN chỉ mang tính chất tương đối vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của một nước, tính chất ngành nghề và điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định. Ở Việt Nam, theo nghị định số 90/2001/NĐ – CP đưa ra chính thức định nghĩa DNVVN như sau: “DNVVN là cơ sở SXKD độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 người”. Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (World Bank) và Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) năm 2003, các DNVVN được phân chia theo quy mô như sau: Doanh nghiệp vô cùng nhỏ (Micro – enterprise): Có đến 10 lao động, tổng tài sản không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 100. 1 Doanh nghiệp nhỏ (Small – enterprise): Có không quá 50 lao động, tổng tài sản có giá trị không quá 3.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 3.
Doanh nghiệp vừa (Medium – enterprise): Có không quá 300 lao động, tổng tài sản có giá trị không quá 15.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15. Ở Việt Nam, DNVVN được phân chia theo tiêu chí phân loại DNVVN được đưa vào trong điều 3 Nghị định Chính phủ số 56/2009/NĐ-CP ban hành ngày 30/06/2009 với nội dung như sau: Bảng 1. Phân loại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam Doanh Quy mô nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao Tổng Tổng Số lao động Số lao động Khu vực động nguồn vốn nguồn vốn I. Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và thủy người đến tỷ đồng đến người đến trở xuống trở xuống sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 II.Công nghiệp 10 người 20 tỷ đồng người đến tỷ đồng đến người đến và xây dựng trở xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 III.Thương mại 10 người 10 tỷ đồng người đến tỷ đồng người đến và dịch vụ trở xuống trở xuống 50 người đến 50 tỷ 100 người đồng (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 30/06/2009) Trên cơ sở những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa DNVVN trong điều kiện hiện nay: “DNVVN là cơ sở SXKD độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 100 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 người”.
Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ Tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế Các DNVVN hoạt động ở cả lĩnh vực thương mại, dịch vụ, cũng như công nghiệp, xây dựng, nông – lâm – ngư nghiệp.; hoạt động dưới nhiều hình thức như 2 doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, 3 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, DNVVN đóng góp khoảng 33% sản lượng công nghiệp, chiếm khoảng 78% doanh số bán lẻ trong thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hóa. Có tính linh hoạt, năng động, trong kinh doanh, có khả năng thích ứng nhanh với các biến động, thay đổi của nền kinh tế trong nước và thế giới Các DNVVN có sự chủ động trong kinh doanh, có khả năng chuyển đổi mặt hàng nhanh, có thể thay đổi nhanh chóng, thích nghi kịp với những biến động của thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội, của giá cả, thị trường, cũng như những đòi hỏi về sản phẩm, dịch vụ theo nhu cầu, thị hiếu, khả năng. của người tiêu dùng mà các doanh nghiệp lớn khó bắt kịp; qua đó tạo ra nhiều loại hàng hoá và dịch vụ mới đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng.
Như vậy, có thể nói các DNVVN có lợi thế hơn các doanh nghiệp lớn trong việc định hướng và làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới từ phía người tiêu dùng theo một khía cạnh nào đó. Mặt khác, nhờ tính năng động, các DNVVN dễ dàng tìm kiếm những thị trường mới và gia nhập thị trường này khi công việc kinh doanh có thể thu nhiều lợi nhuận, hoặc rút khỏi thị trường này khi công việc kinh doanh trở nên khó khăn và kém hiệu quả. Do cơ cấu gọn nhẹ, quy mô nhỏ, các DNVVN rất linh hoạt và mạnh dạn trong đầu tư sản xuất, đổi mới và cải tiến trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, hiện đại hơn. Tận dụng lao động để thay thế cho vốn Để tiến hành SXKD, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội.
Quan hệ lao động trong các DNVVN thường có tính chất thân thiện, gần gũi hơn so với các doanh nghiệp lớn. Chính vì vậy mà người lao động thường dễ dàng được quan tâm, động viên, khuyến khích hơn trong công việc, điều đó góp phần nâng cao hiệu quả SXKD đối với doanh nghiệp. Giúp một bộ phận lớn người dân có công ăn việc làm, các DNVVN có những tác động tích cực trong việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư tại địa phương, góp phần duy trì và bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống. Hàng năm, các DNVVN thu hút khoảng 50,13% tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam, chiếm khoảng 28% lực lượng lao động cả nước.
Có nguồn tài chính hạn chế Việc tạo nguồn vốn kinh doanh thường là một khó khăn đối với các doanh nghiệp, không chỉ DNVVN mà kể cả doanh nghiệp lớn. Các DNVVN có quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ trong khi nhu cầu sử dụng vốn lớn để phục vụ cho việc mở rộng hoạt động SXKD hay đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ, dây chuyền sản xuất. Nguồn vốn đó có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau như vay mượn bạn bè, người thân. tuy nhiên đó không phải là nguồn vốn tốt để có thể phát triển.
Chính vì thế, phần lớn các DNVVN nhỏ luôn ở trong tình trạng thiếu vốn. Các NHTM cũng như các 4 tổ chức tài chính khác thường e ngại không muốn cho DNVVN vay vốn bởi vì họ chưa có quá trình kinh doanh uy tín, thiếu tài sản thế chấp và chưa tạo được nhiều uy tín về khả năng trả nợ. Có trang thiết bị, công nghệ thủ công, lạc hậu Trong nền kinh tế cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay, để thành công, ngoài yếu tố vốn và lao động ra, công nghệ, máy móc, trang thiết bị, các phương pháp sản xuất là yếu tố mà bất kể doanh nghiệp nào cũng cần quan tâm. Việc ứng dụng và đổi mới công nghệ giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giảm bớt chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn vốn, trình độ nhân lực nên các DNVVN ít có sự đổi mới công nghệ hiện đại hơn, và phần lớn các trang thiết bị được sử dụng vẫn khá lạc hậu (cho dù hiện nay, đã có rất nhiều DNVVN đã chú trọng đến đổi mới công nghệ và áp dụng rất thành công, linh hoạt các máy móc, thiết bị hiện đại trên thế giới). Năng lực cạnh tranh thấp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, trong những năm gần đây, với sự đổi mới trong cơ chế quản lý, chính sách và luật, các doanh nghiệp ngày càng được thành lập nhiều. Tuy nhiên, do sự manh mún về số lượng cũng như chất lượng kinh doanh, sức cạnh tranh của các DNVVN rất thấp. Tuy tham gia vào nhiều lĩnh vực và thành phần kinh tế, nhưng các sản phẩm của họ chỉ chiếm thị phần nhỏ.
Đó là vì uy tín các DNVVN hiện vẫn chưa cao, tâm lý của người tiêu dùng còn e ngại về chất lượng và trình độ quản lý kinh doanh của các chủ doanh nghiệp. Họ vẫn ưa chuộng và tin tưởng các sản phẩm ở các doanh nghiệp lớn, có thương hiệu hơn. Trình độ quản lý yếu DNVVN là loại hình còn non trẻ, chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp mang tính chất gia đình. Do vậy trình độ quản lý, điều hành thường theo thói quen, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý theo định hướng thị trường hiện đại còn thiếu.
Nhiều chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo bài bản về quản lý và kinh doanh, thiếu những kiến thức kinh tế cơ bản, am hiểu pháp luật không được cặn kẽ.