CHƯƠNG 1 C ơ SỎ LÍ LUẬN VÊ MỞ RỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TÓNG QUAN VÈ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng ra đời từ rất lâu nhung đến nay, định nghĩa vê tín dụng vẫn chưa được thống nhất và có nhiều cách hiểu, về nguồn gốc, khái niệm "Tín dụng" có nguồn gốc từ thuật ngữ La tinh "Credo" có nghĩa là tin tưởng tín nhiệm. Có thể hiểu tín dụng là một sự ứng trước "giá trị hiện tại" đế đối lấy "giá trị tương lai" với mong muốn rằng "giá trị tương lai" sẽ lớn hon "giá trị hiện tại" [8,tr 10].
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Theo cách hiểu đon thuần: “tín d ụ n g ỉ à q u an hệ g iữ a c á c bên vê v iệ c vay m ư ợn m ộ t tà i sản, gồm tà i sản thực, tà i sả n tà i c h ín h h a y uy tín ” [ l,tr 26], Theo đó, tín dụng được chia ra làm ba hình thức dựa vào người cấp tín dụng là ai gồm có: Tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng. Cho vay KHCN là hoạt động tín dụng của Ngân hàng cho chủ thê là các cá nhân, hộ gia đình, trong đó Ngân hàng tài trợ vốn cho cá nhân, phục vụ việc sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn cả gôc và lãi. Cho vay KHCN là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng (người cho vay) giao cho đối tượng khách hàng cá nhân (người đi vay) một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc 7 hoàn trả cả gốc và lãi.
Đặc điếm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Ngoài những đặc điểm vốn có của tín dụng ngân hàng nói chung thì cho vay KHCN có một số đặc điểm riêng khác của nó: • Đối tưọ'ng vay: là cá nhân và các hộ gia đình. • Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình, không xuất phát từ mục đích kinh doanh. Do đó phụ thuộc vào nhu cầu của từng khách hàng và chu kỳ kinh tế của họ. • Cho vay Khách hàng cá nhân có tính đa dạng cao: > N h u cầu đu dạng của khách hàng: Cho vay KHCN phục vụ một lượng khách hàng rất đông.
Căn cứ vào thu nhập, người ta phân chia nhóm đổi tượng khách hàng cá nhân có thu nhập cao, nhóm thu nhập tương đổi cao, nhóm khách hàng đại chúng. Căn cứ vào nghề nghiệp có chủ các doanh nghiệp, tiểu thương, cán bộ công nhân viên chức, nhóm tri thức, sinh viên, nhóm công nhân; căn cứ theo tuôi tác khách hàng có thê là người lớn tuôi hưu trí hay những người đang trong độ tuôi lao động, thanh niên hoặc vị thành niên có người giám hộ. Khách hàng cá nhân bao gồm nhiều tầng lớp có đặc điểm khác nhau về: thu nhập, chi tiêu tài chính, độ tuổi, trình độ dân trí, hiểu biết về ngân hàng, nghề nghiệp tâm lý xã hội, do đó nhu cầu về dịch vụ ngân hàng cũng rât đa dạng khác nhau. > Sản p h à m dịch vụ đa dạng: Xuất phát từ nhu cầu của khách hàng, các ngân hàng đã phát triên và thay đổi không ngừng để đưa ra nhiều sản phấm dịch vụ khác nhau từ các dịch vụ truyền thống đến các sản phẩm mới hiện đại nhằm thỏa mãn yêu câu riêng biệt của các nhóm khách hàng.
Hàng loạt các sản phâm dịch vụ thuộc các nhóm dịch vụ nhận tiền gửi cho vay, thanh toán, ngân hàng điện tử, ủy 8 thác đầu tư, bảo lãnh bảo quản vật có giá, mua bán ngoại tệ được phát triên không ngừng. Tại các nước phát triển, số lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng dành cho khách hàng cá nhân lên tói hàng nghìn nhàm phục vụ nhu cầu đa dạng của khách hàng. > Kênh p h ân p h ố i sản p h ẩ m đa dạng: Hoạt động cho vay KHCN của ngân hàng phụ thuộc nhiều vào mạng lưới đa kênh phân phối của ngân hàng. Với xu thể phát triển mạnh của công nghệ thông tin, ngày nay khách hàng có thể tiếp cận sản phẩm dịch vụ của ngân hàng qua rất nhiều kênh như chi nhánh, phòng giao dịch, ATM, Internet, Phone Banking, Kios, POS.
Việc đa dạng kênh phân phối trong dịch vụ ngân hàng bán lẻ ngày càng đem lại thuận lợi cho khách hàng, đồng thời cũng tiết kiệm được chi phí cho ngân hàng và toàn xã hội. • Quy mô của mỗi khoản vay nhỏ nhưng số Iưọ’ng khoản vay Ió'n: Khi khách hàng có nhu cầu mua sắm, đổi vói những hàng hoá thông thường thì giá cả của nó không quá cao, còn đổi với những loại hàng hoá có giá trị lớn như ôtô, nhà cửa thì khách hàng cũng đã tích luỹ từ trước và ngân hàng chỉ cho vay bổ sung phần thiếu hụt vì vậy so vói các món vay kinh doanh thì những món vay tiêu dùng thường có quy mô nhỏ hon rât nhiêu. Tuỳ vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội dẫn đến số lượng những khoản vay tiêu dùng là lớn hay nhỏ. Khi nền kinh tế phát triên thu nhập của ngưò'i dân có xu hướng gia tăng, nhu cầu tiêu dùng của họ cũng tăng theo và họ đã tìm đến ngân hàng để thoả mãn ngay các nhu cầu hiện tại và ngược lại khi nền kinh tế suy yếu, người dân có xu hướng tiết kiệm hơn tiêu dùng nên họ sẽ hạn chế tìm kiếm các khoản vay từ ngân hàng.
• Yêu cầu sự ổn định về chất lượng: Việc đảm bảo ổn định về chất lượng là yếu tố quyết định thiết lập lòng tin của khách hàng, đặc biệt đó là vấn đề nhạy cảm của hoạt động ngân hàng 9 trong kinh tế thị trường nhằm duy trì khách hàng đã có và phát triển thị trường tiềm năng. Các yêu cầu thỏa thuận của khách hàng có thể xảy ra đối với từng dịch vụ, từng giao dịch, từng thời điểm chính xác, an toàn là những yêu cầu phải tuân thủ thường xuyên trong mọi điều kiện. Sự on định về chât lượng còn thể hiện trong việc triển khai áp dụng các văn bản quy định thực hiện nhất quán trong một ngân hàng và hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng có tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ tiêu chuẩn hóa các yêu cầu từ mẫu giấy tờ, thòi gian xử lý giao dịch cho đến chính sách giá được tiêu chuẩn hóa và áp dụng thống nhất trong một ngân hàng.
Ngân hàng phải có chiến lược và giải pháp ứng phó kịp thời, phù hợp, hiệu quả, phải đào tạo nguồn nhân lực am hiếu về sản phâm dịch vụ và tính tương tác của sản phẩm dịch vụ này trên hệ thống để kịp thời giải quyết các thắc mắc của khách hàng, vấn đề vi phạm chất lượng dịch vụ có thế xảy ra do lồi kỹ thuật, đối tác hoặc cán bộ ngân hàng, nhưng các ngân hàng phải có giải pháp hạn chế tối đa và xử lý kịp thời, đảm bảo quyền lợi cho khách hàng. • Các khoản cho vay Khách hàng cá nhân có chi phí cao: Nếu xét về số lượng thì cho vay KHCN gồm rất nhiều những món vay nhỏ mặc dù nếu tính tổng dư nợ thì chi bằng một vài khoản vay lớn tuy nhiên ngân hàng vẫn phải thực hiện đầy đủ đúng quy trình cho tùng món vay từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, tìm hiểu thông tin về khách hàng. mà không được phép bỏ sót một khâu nào, những điều này làm mất rất nhiều thời gian và việc thực hiện một khoản vay rất tổn kém, chiếm một khoản mục chi phí lớn của ngân hàng và lãi suất cho vay KHCN thưòng cao hon các loại tín dụng trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp. [ 10,tr 724] • Các khoản cho vay KHCN thuòng có độ rủi ro cao: về cơ bản thì hoạt động tín dụng là hoạt động rủi ro nhất trong hoạt động ngân hàng.
Tuy nhiên, loại hình cho vay KHCN còn rủi ro hơn so với tín 10 dụng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. > R ủ i ro khách quan: Suy thoái kinh tế, mất mùa, thất nghiệp, bệnh tật.gây ra những biến động lớn trong thu nhập của khách hàng. Ngoài ra, cho vay KHCN có tính nhạy cảm theo chu kỳ. Nó tăng lên trong thời kỳ nền kinh tế phát triển và giảm đi khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát giá cả tăng cao, tình trạng thất nghiệp tăng khiến người dân hạn chế vay mượn ngân hàng.
> R ủ i ro chủ quan: Tình trạng công việc như mức thu nhập, trình độ học vấn, sức khỏe ảnh hưởng đến tình hình tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng, chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng không cao, nguồn trả nợ của người đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỳ năng và kinh nghiệm của họ. Ngoài ra, rủi ro về mặt đạo đức của người vay khi không có thiện chí trong việc trả nợ, đặc biệt là các khoản cho vay KHCN tín chấp không có tài sản đảm bảo. • Hoạt động CVKHCN có tính thòi điểm cao: Hoạt động tín dụng nói chung không thể tạo ra hàng loạt các sản phấm lưu kho như các ngành kinh doanh khác. Với đặc trưng phục vụ đối tượng chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình nên hoạt động cho vay KHCN mang tính thời điểm rất cao.
Tính thời điểm thể hiện ở việc ngân hàng chọn thời điểm nào thì đưa ra sản phẩm mới, quyết định giảm phí, tăng lãi suất hay có chưong trình khuyến mại, dự thưởng phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Tính thời điểm còn thể hiện ở tính cập nhật thông tin về sản phấm dịch vụ của Ngân hàng, đặc biệt các vấn đề liên quan đến quyên lợi và nghĩa vụ của khách hàng, cập nhật thông tin về khách hàng cá nhân khi có sự thay đổi. Trong việc cung cấp dịch vụ thanh toán, yêu cầu pho biến nhất của khách hàng là ủy nhiệm chi, chuyển tiền, thanh toán qua thẻ phải được xử lý hạch toán và hoàn tất trong một thòi gian nhất định hoặc ngay khi khách hàng thực hiện giao dịch.