Đặt vấn đề Phần 2: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Thực trạng cho vay tiêu dùng tín chấp đối với khách hàng trả lƣơng qua thẻ ATM của Ngân hàng BIDV-Chi nhánh Quảng Trị Chƣơng 3: Giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tín chấp đối với khách hàng trả lƣơng qua thẻ ATM của Ngân hàng BIDV-Chi nhánh Quảng Trị Phần 3: Kết luận và kiến nghị 5 PHẦN 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về tín dụng 1.1 Khái niệm về tín dụng Nguyễn Minh Kiều (2009) đã đƣa ra khái niệm về tín dụng nhƣ sau: Tín dụng là một sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị dƣới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng, sau một thời gian nhất định trả lại với một lƣợng lớn hơn. Khái niệm trên thể hiện ở 3 đặc điểm cơ bản, nếu thiếu một trong 3 đặc điểm sau thì sẽ không còn là phạm trù tín dụng nữa: + Một, có sự chuyển giao quyền sử dụng một lƣợng giá trị từ ngƣời này sang ngƣời khác. + Hai, sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời.
+ Ba, khi hoàn lại lƣợng giá trị đã chuyển giao cho ngƣời sở hữu phải kèm theo một lƣợng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức.2 Phân loại tín dụng 1.1 Căn cứ thời hạn tín dụng - Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn dƣới 1 năm thƣờng đƣợc sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lƣu động và nhu cầu sinh hoạt cá nhân. - Tín dụng trung hạn: Có thời hạn lớn hơn một năm và nhỏ hơn hay bằng năm, loại tín dụng này đƣợc cung cấp nhằm mua sắm tài sản cố định, đổi mới kĩ thuật, xây dựng những công trình nhỏ có thời gian thu hồi vồn nhanh. - Tín dụng dài hạn: Có thời hạn trên năm năm, đƣợc cung cấp để xây dựng cơ bản, cải tiến kĩ thuật, tài trợ các dự án đầu tƣ.2 Căn cứ vào đối tượng tín dụng - Tín dụng vốn lƣu động: Là loại tín dụng đƣợc sử dụng để hình thành vốn lƣu động của cấc tổ chức kinh tế, có ý nghĩa là cho vay bù đắp vốn lƣu động cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán khoản nợ dƣới hình thức chiết khấu kỳ phiếu. Đây là loại tín dụng có mức độ ro thấp vì vốn lƣu động của doanh nghiệp là vốn luân chuyển trong chu kỳ sản xuất kinh doanh nên ngân hàng có thể theo dõi thƣờng xuyên và nếu có biến động xảy ra thì kịp thời thu hồi vốn.
6 - Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng đƣợc sử dụng để hình thành tài sản cố định, có nghĩa là đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng xí nghiệp và công trình mới. Hình thức tín dụng này thƣờng có mức dộ rủi ro cao hơn vì khả năng thu hồi vốn chậm hơn 1.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của Ngân hàng - Tín dụng không bảo đảm: Là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba, mà việc cấp tín dụng thì chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung. Nhƣ vậy, mặc dù không có tài sản đảm bảo nhƣng đây cũng là loại tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì khách hàng có uy tín rất lớn và có khả năng trả nợ ngân hàng rất cao thì mới đƣợc cấp tín dụng mà không có đảm bảo.
- Tín dụng có đảm bảo: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở đảm bảo nhƣ thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba. Hình thức này áp dụng đối với những khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có đảm bảo. Sự đảm bảo này là cơ sở pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu nợ thứ hai. Mặc dù có sự đảm bảo nhƣng hình thức này vẫn có mức độ rủi ro vì có thể tài sản bị mất giá hay ngƣời bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình.4 Dựa vào phương thức cho vay - Cho vay theo món vay: Là phƣơng thức cho vay mà trong đó khách hàng lập hồ sơ cho mỗi lần vay và có xác định kì hạn nợ rõ ràng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phƣơng thức cho vay mà khách hàng chỉ cần lập một bộ hồ sơ vay vốn vào đầu kì kế hoạch và có thể sử dụng cho nhiều món vay. Ngân hàng sẽ phân tích và xác định một mức dƣ nợ vay tối đa đƣợc duy trì trong thời hạn nhất định cho khách hàng. - Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc Ngân hàng chấp thuận bằng văn bản cho khách hàng chi vƣợt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng thông qua hệ thống ATM hoặc các điểm giao dịch của Ngân hàng trên toàn hệ 7 thống hay các POS để phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và gia đình nhƣ: mua sắm vật dụng gia đình, đóng học phí, thanh toán các hóa đơn….Ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạng mức sử dụng tiền trên tài khoản tại Ngân hàng gọi là hạn mức thấu chi.5 Dựa vào tính chất của tín dụng - Tín dụng gián tiếp: Là hình thức tín dụng đƣợc thực hiện thông qua việc mua lại các khế ƣớc hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Đây là loại tín dụng có mức độ rủi ro lớn vì ngân hàng không có đầy đủ thông tin về con nợ, hơn nữa các doanh nghiệp hầu nhƣ không có kinh nghiệm trong việc cấp tín dụng cho khách hàng của mình.
- Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho ngƣời có nhu cầu, đồng thời ngƣời đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. Mức độ rủi ro trong trƣờng hợp này thấp hơn vì ngân hàng có thể trực tiếp gặp khách hàng và nó đƣợc thực hiện bởi những cán bộ có nghiệp vụ và kinh nghiệm trong việc cung cấp tín dụng.6 Dựa vào mục đích sử dụng vốn tín dụng - Cho vay công nghiệp và thƣơng mại - Cho vay tiêu dùng cá nhân - Cho vay sản xuất nông nghiệp - Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu 1.3 Tổng quan về tín dụng tiêu dùng 1.1 Khái niệm Trên thực tế, khái niệm về cho vay cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Cho vay có thể đƣợc hiểu là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tƣợng khác (bên đi vay), trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thƣờng kèm theo lãi suất. Cho vay có thể hiểu là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
8 Hoạt động cho vay đƣợc phân loại khác nhau phụ thuộc vào những tiêu chí khác nhau nhƣ: thời gian, mức độ rủi ro, đối tƣợng khách hàng, mục đích sử dụng vốn vay, có tài sản đảm bảo và không có tài sản đảm bảo,. Hoạt động cho vay thƣờng đƣợc định lƣợng theo 2 chỉ tiêu: Doanh số cho vay trong kỳ và dƣ nợ cuối kỳ. Trong đó, doanh số cho vay trong kỳ là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay ra trong kỳ, dƣ nợ cuối kỳ là số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho khách hàng vay vào thời điểm cuối kỳ. Nhƣ đã nói trên đây, nếu phân loại hoạt động cho vay theo mục đích sử dụng vốn vay thì sẽ có cho vay tiêu dùng và cho vay sản xuất kinh doanh.
Nhƣ vậy, khái niệm cho vay tiêu dùng đối với KHCN có thể hiểu một cách khái quát là hình thức cho vay, trong đó có sự chuyển nhƣợng tạm thời một khoản tiền từ phía ngân hàng thƣơng mại sang ngƣời sử dụng (ngƣời vay) là các cá nhân và hộ gia đình để sử dụng vào mục đích tiêu dùng và trong khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi,. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp cho ngƣời tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống nhƣ nhà ở, phƣơng tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế,… và chi tiêu cho các nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ trƣớc khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện nâng cao cuộc sống của ngƣời dân và đồng thời có hiệu quả trong việc kích cầu, kích thích tiêu dùng để đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh chung cho cả nền kinh tế. Bên cạnh đó, trên cơ sở phân loại theo tiêu chí về mức độ tín nhiệm đối với KHCN, cho vay tiêu dùng có thể có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm. Cho vay tiêu dùng đối với KHCN không có tài sản bảo đảm chính là vay tiêu dùng tín chấp đối với KHCN 1.2 Đặc điểm và lợi ích của tín dụng tiêu dùng 1.1 Đặc điểm Cho vay tiêu dùng có những đặc điểm cơ bản sau: 1.1 Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lại lớn, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào chu kỳ của nền kinh tế.
9 Quy mô của từng hợp đồng vay thƣờng khá nhỏ, thời gian vay không kéo dài, trong khi đó số lƣợng các khoản vay tiêu dùng lại rất lớn. Hơn nữa các thông tin về các cá nhân thƣờng không đầy đủ và thiếu tính chính xác, điều này khiến cho ngân hàng mất thời gian, và nguồn lực trong quá trình tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng trƣớc cho vay cũng nhƣ trong suốt quá trình giải ngân, cho vay và thu nợ. Những điều đó khiến cho việc thực hiện các khoản vay tiêu dùng đối với ngân hàng khá tốn kém và mất nhiều chi phí. Bên cạnh đó, mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân mà không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh nên cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào nhu cầu, tính cách của từng đối tƣợng khách hàng và mức thu nhập từng thời kỳ của khách hàng cũng nhƣ chu kỳ của nền kinh tế.