CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG CHO VAY VỐN TẠI NHTM.1 Tổng quan về NHTM và hoạt động của NHTM 1.1 Khái niệm NHTM Ngân hàng là một trong những trung gian tài chính quan trọng của nền kinh tế. Ngân hàng thực hiện chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ, vì vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của chính phủ nhằm ổn định kinh tế. Ngân hàng được định nghĩa thôi qua chức năng, các dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp hay vai trò trong nền kinh tế Theo giáo trình Ngân hàng thương mại Phan Thị Thu Hà (2013):” Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau”. Theo khoản 1, Điều 1, Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước số 38-LCT/HĐNN8 về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 quy định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.” Theo Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng Số 47/2010/QH12 được Quốc hội khoá XII thông qua ngày 16/6/2010 quy định: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Và theo quy định tại khoản 1, Điều 6, Luật số: 46/2010/QH12 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.” Từ đó, chúng ta có thể hiểu: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng giao dịch trực tiếp với các khách hàng là các loại hình tổ chức, doanh nghiệp và cá 5 nhân thông qua huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi, tiền phát hành giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp; đồng thời sử dụng nguồn vốn huy động được để cho vay, chiết khấu, hay cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng trên. Thông qua các hoạt động đó thì NHTM tạo ra lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng.2 Hoạt động cho vay tại NHTM 1.1 Khái niệm Theo quyết định số 1627/2001/QĐ –NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN Việt Nam về ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.3 Phân loại cho vay 1.1 Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn vay Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, trong đó thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là đến 1 năm. Hình thức cho vay này chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động của khách hàng trong hoạt động kinh doanh hoặc thỏa mãn nhu cầu về tiêu dùng của khách hàng trong một thời hạn ngắn. Cho vay trung và dài hạn: là hình thức cho vay trong đó thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là từ 1 năm trở lên.
Hình thức cho vay này thường được sử dụng để thỏa mãn nhu cầu mua sắm tài sản cố định của khách hàng trong kinh doanh hoặc thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng như mua sắm nhà ở, phương tiện đi lại… 1.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn Cho vay sản xuất kinh doanh: là hình thức cho vay trong đó các bên cam kết số tiền vay sẽ được bên vay sử dụng vào mục đích thực hiện các công việc kinh 6 doanh của mình. Nếu sau khi được giải ngân mà người vay lại sử dụng vốn vào mục đích khác với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay áp dụng chế tài thích hợp để ngăn chặn. Cho vay tiêu dùng: là hình thức cho vay trong đó các bên cam kết số tiền vay sẽ được bên vay sử dụng vào việc thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hay tiêu dùng như mua sắm đồ gia dụng, mua sắm nhà cửa hoặc phương tiện đi lại, thấm chí bao gồm cả việc sử dụng vốn vay vào mục đích học tập của sinh viên học viên… 1.3 Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay - Cho vay có tài sản bảo đảm: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ trả nợ bằng tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc người thứ 3. Để xác lập và thực hiện việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay (hoăc có thẻ liên quan đến người thứ 3 trong trường hợp bảo đảm tiền vay bằng biện pháp bảo lãnh) phải ký kết cả hai loại hợp đồng, bao gồm hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay (hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh).
Tuy nhiên, do pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận lập một hợp đồng chung nên trong trường hợp này các thỏa thuận về bảo đảm tiền vay được xem là một bộ phận hợp thành của hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản. - Cho vay không có tài sản bảo đảm: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản cụ thể, xác định của khách hàng vay hoặc người thứ ba. Để thực hiện việc cho vay theo hình thức vay, thong thường các bên chỉ cần giao kết một hợp đồng duy nhất là hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, trong trường hợp tổ chức tín dụng cho vay có bảo lãnh bằng tín chấp vẫn phải xác lập một văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tín của mình và gửi cho tổ chức tín dụng để khách hàng vay có thể được tổ chức tín dụng cho vay.4 Căn cứ vào phương thức cho vay - Cho vay trả góp: là các khoản cho vay ngắn hoặc trung dài hạn được thanh toán làm hai hoặc nhiều lần liên tiếp (thường theo tháng hoặc quý).
Những khoản cho vay này thường được dùng để mua sắm những vật dụng đắt tiền hoặc trang trải các khoản nợ. 7 - Cho vay trả một lần: là các khoản cho vay ngắn hạn của các cá nhân và hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn. Quy mô của những khoản vay tương đối nhỏ và bao gồm cả phí tài khoản với yêu cầu thanh toán trong vòng 30 ngày hoặc trong thời gian tương đối ngắn. Phần lớn các khoản vay loại này được dùng để chi trả cho những chuyến đi nghỉ, tiền viện phí, mua các dụng cụ gia đình, sửa chữa ô tô và nhà ở… 1.2 Khái quát về hoạt động cho vay mua ô tô cho khách hàng cá nhân 1.1 Khái niệm về hoạt động cho vay mua ô tô 1.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng (CVTD) là việc Ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định để sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu phục vụ đời sống.
Nhìn chung, cho vay tiêu dùng được coi là khoản tiền vay cấp cho các cá nhân, hộ gia đình để chi dùng cho các mục đích không kinh doanh. Cho vay tiêu dùng cho phép cá nhân, hộ gia đình được sử dụng trước khả năng mua hàng hóa của mình trong tương lai, tức là tạo điều kiện thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trước khi họ có khả năng chi trả. Do đó ngoài việc nâng cao mức sống về mặt vật chất, thì cho vay tiêu dùng còn gián tiếp kính thích sản xuất.2 Khái niệm hoạt động cho vay mua ô tô Cho vay mua ô tô là khoản cho vay trong hình thức cho vay tiêu dùng (CVTD) nhằm tài trợ chi tiêu cho khách hàng, được hiểu là một hình thức ngân hàng cho khách hàng vay vốn để mua ôtô mặc dù khách hàng đó có thể chưa đủ khả năng mua tại thời điểm đó, đồng thời hoạt động này giúp cho các hãng sản xuất xe có thể duy trì hiệu suất sản xuất và khả năng tiêu thụ ô tô ra thị trường.2 Đặc điểm cho vay mua ô tô của khách hàng cá nhân 1.1 Đặc điểm đối tượng cho vay mua ôtô của KHCN - Các cá nhân, hộ gia đình. Hầu hết các cá nhân khi tiến hành vay vốn để đáp ứng cho mục đích tiêu dùng đều có thu nhập cao và ổn định.
Hơn thế, họ có nhu cầu 8 chi tiêu vượt quá thu nhập của mình. Đối với khách hàng cá nhân, vay vốn sẽ giúp họ nhận được cuộc sống đầy đủ ở hiện tại mà chỉ khả năng chi trả trong tương lai mới đáp ứng được. - Đối tượng là những người có đầy đủ năng lực pháp lý và đáp ứng đủ điều kiện vay vốn của Ngân hàng.2 Thời hạn cho vay Các NHTM thường quy định thời gian cho vay là từ 1-10 năm, tùy từng quy định, mục đích sử dụng vốn vay, tài sản đảm bảo, nguồn và kế hoạch trả nợ của khách hàng với ngân hàng.3 Lãi suất cho vay mua ô tô: Ngân hàng áp dụng 2 hình thức Lãi suất cố định (áp dụng theo số dư nợ cố định ban đầu, số tiền phải trả hàng tháng không thay đổi) Lãi suất không cố định, thay đổi liên tục, biến động theo thị trường 1.3 Phương thức cho vay mua ô tô cho khách hàng cá nhân - Phương thức cho vay trực tiếp với người mua: Là phương thức cho vay trực tiếp đối với người mua là phương thức cho vay mà ngân hàng thực hiện cho vay trực tiếp đối với người mua. Theo phương thức này ngân hàng sẽ thay mặt khách hàng thanh toán số tiền mua ô tô của khách hàng cho các hãng sản xuất, doanh nghiệp, đại lý bán ô tô.
Khi đến hạn thanh toán, khách hàng phải trả ngân hàng số tiền đã vay và lãi như đã ký trong hợp đồng vay.