Chương 1: Các vấn đề lý luận cơ bản về mở rộng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng mở rộng hoạt động cho vay khách hàng cá nhận tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam- Chi nhánh Hồng Bàng. Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam-Chi nhánh Hồng Bàng 5 CHƢƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động cho vay Hoạt động cho vay là một phần của hoạt động tín dụng Ngân hàng. Hoạt động này ra đời từ buổi đầu của Ngân hàng và đã trở thành một trong hai nhiệm vụ cư bản của Ngân hàng. Đây cũng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng bởi vì chỉ có lãi cho vay mới bù đắp lại các chi phí phát sinh của Ngân hàng như chi phí quản lý, chi phí dự trữ…thực tế trong quá trình phát triển của ngân hàng cho thấy lợi nhuận từ các khoản cho vay chiếm phần lớn thu nhập của Ngân hàng. Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận.
Doanh thu từ hoạt động cho vay đem lại nguồn thu chủ yếu để bù đắp chi phí tiền gửi, chi phí dự trử, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư. Tại Việt Nam các Thông tư số 39/2016/TT- NHNN của thống đốc ngân hàng về việc ban hành quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Đây là khung pháp lý chung điều chỉnh hoạt động cho vay đối TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng phù hợp với luật các TCTD đối với khách hàng., luật dân sự 2015 đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động cho vay và tăng tính minh bạch trong hoạt động cho vay. 6 Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả gốc và lãi.
Đặc điểm hoạt động cho vay: Thứ nhất, về chủ thể bao giờ cũng có hai bên tham gia: Bên cho vay - là người có tài sản chưa dùng đến, muốn cho người khác sử dụng để th a mãn một số lợi ích của mình và Bên vay – là người đang cần sử dụng tài sản đó để th a mãn nhu cầu của mình về kinh doanh hoặc vốn. Thứ hai, hình thức pháp lý của việc cho vay được thể hiện dưới dạng hợp đồng tín dụng tài sản. Thứ ba, sự kiện cho vay phát sinh bởi hai hành vi căn bản là hành vi ứng trước và hành vi hoàn trả một số tiền hay tài sản nhất định là các vật cùng loại. Thứ tư, việc cho vay bao giờ cũng dựa trên sự tín nhiệm giữa người cho vay đối với người đi vay về khả năng hoàn trả tiền vay.
Bên cạnh những đặc điểm cơ bản trên thì trong khái niệm cho vay của tổ chức tín dụng còn thể hiện những dấu hiệu mang tính chất đặc thù như: Một là việc cho vay của các tổ chức tín dụng là hoạt động nghề nghiệp kinh doanh mang tính chức năng. Đây là quy định mang tính chất đặc thù, mang tính chất nghề nghiệp kinh doanh được pháp luật quy định cho nó những quyền năng cụ thế. Hai là hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng không chỉ là một nghề kinh doanh mà hơn nữa còn là một nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện. Điều này thể hiện ở chỗ hoạt động cho vay chuyên nghiệp của tổ chức tín 7 dụng phải thảo mãn một số điều kiện nhất định như phải có vốn pháp định, phải được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy ph p hoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc đăng kí kinh doanh theo luật định.
a là ngoài việc tuân thủ quy định chung của pháp luật về hợp đồng, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của cá đạo luật về ngân hàng, thậm chí kể các các tập quán thương mại về ngân hàng. Đặc điểm này bị chi phối bởi tính chất đặc thù trong nghề nghiệp kinh doanh của các tổ chức tín dụng như tính rủi ro cao và sự ảnh hưởng mang tính chất dây chuyền đối với nhiều lợi ích khác trong xã hội. Vai trò của hoạt động cho vay Hoạt động cho vay lại mang lợi nhuận lớn cho Ngân hàng và thúc đẩy các hoạt động khác của Ngân hàng: Hoạt động cho vay chiếm 70% doanh thu tại nước phát triển, 90% doanh thu tại các nước đang phát triển. Mặt khác, nhờ hoạt động cho vay mà các đơn vị kinh tế có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, lợi nhuận thu được trả tiền vay cho Ngân hàng mà còn gửi tiền, sản xuất kinh doanh phát triển, xã hội phát triển thì các hoạt động dịch vụ của Ngân hàng cũng phát triển Hoạt động cho vay góp phần điều hòa cung-cầu dịch vụ hàng hóa: Doanh nghiệp muốn sản xuất hoặc mở rộng kinh doanh thì doanh nghiệp phải vay vốn Ngân hàng.
Nhưng doanh nghiệp chỉ thu được lợi nhuận cũng như có khả năng trả nợ Ngân hàng khi Doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm. Về phía người tiêu dùng, không phải lúc nào họ cũng mua được hàng hóa họ cẩn, mà chỉ khi đủ khả năng tài chính. Đó chính là nguyên nhận dẫn đến chu kỳ tuần hoàn luân chuyển vốn của doanh nghiệp bị ngưng trệ. Doanh nghiệp chưa thu hồi đủ tiền để quay vòng sản xuất.
Vì vậy Ngân hàng giúp cho doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ hàng hóa. Góp phần điều dòa cung cầu sản phẩm hàng hóa dịch vụ cho nền kinh tế 8 Hoạt động cho vay góp phần điều tiết và phân phối các nguồn vốn: Vốn sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế luôn liên tục và biểu hiện qua hình thức khác nhau qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, tạo chu kỳ tuần hoàn và luân chuyển vốn. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi h i nguồn vốn của doanh nghiệp luôn đồng thời tồn tại 3 giai đoạn: dự trữ-sản xuất-lưu thông. Từ đó có thể gây thiếu vốn tạm thời.
Đây là hiện tượng thường xuyên phổ biến làm nảy sinh nhu cầu ngày càng cấp thiết cần giải quyết được vấn đề điều hòa vốn. Ngân hàng thương mại với vai trò trung gian tài chính đứng ra tập trung phân phối tiền tệ, điều hòa cung cầu vốn ch doanh nghiệp, góp phần điều tiết lại nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp không bị gián đoạn Hoạt đông cho vay góp phần dịch cơ cấu kinh thế theo hướng công nghiệp hóa-Hiện đại hóa: Nhiều thành phần kinh tế, phần lớn nguồn vốn đi vay từ Ngân hàng để bắt tay vào ngành thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn Hoạt động cho vay góp phần giúp các thành phần kinh tế mở rộng ứng dụng mới: Thông qua nguồn vốn vay tại Ngân hàng, doanh nghiệp có thể đầu tư công nghê vào dây truyển sản xuất. Doanh nghiệp được trang bị kỹ thuật- công nghệ làm tăng ưu thế của doanh nghiệp đó giúp tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp, mở rộng sản xuất. Phân loại hoạt động cho vay Hiện nay hoạt động cho vay thường phân loại theo những tiêu chí như sau: Căn cứ vào thời gian cho vay Thời gian cho vay là khoảng thời gian kể từ khi khách hàng nhận nợ khoản tiền vay đầu tiên đến khi trả hết nợ.
Thời gian cho vay phụ thộc vào 9 chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay vốn, nguồn vốn trả nợ ngân hàng của người vay và khả năng nguồn vốn của ngân hàng. Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay mà thời gian cho vay đến 12 tháng Cho vay trung hạn: Cho vay ngắn hạn là loại cho vay mà thời gian cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng Cho vay dài hạn: Cho vay ngắn hạn là loại cho vay mà thời gian cho vay từ trên 60 tháng Căn cứ vào tính chất luân chuyển vốn vay Cho vay vốn cố định: là loại cho vay mà vốn vay sử dụng vào các mục đích mua sắm, mở rộng, duy tu tài sản cố định. Cho vay vốn lưu động: Khác với tài sản cố định, tài sản lưu động là những tài sản chỉ tham gia vào một quá trình sản xuất kinh doanh, giá trị của tài sản lưu động chuyển một lần vào giá trị sản phẩm.Cho vay vốn lưu động là loại cho vay mà mục đích để mua tài sản lưu động. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn Cho vay sản xuất kinh doanh: là loại cho vay mà tiền vay tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình b vốn mua các yếu tố sản xuất sau đó thực hiện quá trình lao động để kết hợp các yếu tố sản xuất thành sản phẩm và tiêu thụ, sau đó tiếp tục quá trình tái sản xuất. Đối với cho vay sản xuất kinh doanh có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn. Thông thường đối với lĩnh vực lưu thông hàng hoá các ngân hàng thường cho vay ngắn hạn. Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay mà mục đích là để sử dụng vào tiêu dùng.
Khác với cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng vốn vay bị tiêu dùng dần không tạo ra sản phẩm hàng hoá, vì vậy cho vay tiêu dùng phải 10 có nguồn thu nợ độc lập với dự án, như nguồn tiền lương, nguồn thu từ bán các tài sản khác của người vay… Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Để thực hiện được nguyên tắc hoàn trả khi cho vay các ngân hàng thường áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay. Đảm bảo tiền vay là việc bằng cơ sở pháp lý tạo thêm cho ngân hàng một nguồn thu thứ hai độc lập với nguồn thu từ tài sản cho vay. Các biện pháp đảm bảo tiền vay thông thường là thế chấp, bảo lãnh, cầm cố… Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là loại cho vay mà hình thức bảo đảm là tài sản.Khi cho vay bảo đảm bằng tài sản song song với hợp đồng vay tiền ngân hàng và khách hàng ký thêm hợp đồng bảo đảm bằng tài sản.