CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY SẢN XUẤT KINH DOANH ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số khái niệm về cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Theo Fredric S. Từ việc những nhà buôn tiển cho vay tiền bằng vốn tự có cho đến khi họ nhận ra có những người có nguồn tiền dư thừa muốn gửi vào tiết kiệm và có những ngườithiếu vốn cần vay tiền mà tiền người gửi vẫn còn trong két chưa được sử dụng và nhà buôn tiền đã nghĩ ra việc sử dụng tạm thời một khoản tiền gửi của khách gửi tiền để cho vay những khách hàng đang cần vốn.
Từ đó, hoạt động cho vay ra đời và phát triển, đa dạng hóa các loại hình tài trợ khác cho nhiều lĩnh vực khác nhau cho đến ngày nay. Theo Luật Tổ chức tín dụng (2010) số 47/2010/QH12, Quốc hội, điều 4, mục 16[15] có khái niệm về cho vay: “ Cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Khách hàng cá nhân là cá nhân có năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của Pháp luật; có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; có phương án kinh doanh, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của Pháp luật; thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của 10 Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Quy trình cho vay khách hàng cá nhân là toàn bộ quá trình ngân hàng tiếp nhận hồ sơ vay khách hàng cá nhân, thẩm định, phê duyệt và quyết định cho vay, giám sát quá trình sử dụng vốn và trả nợ của khách hàng, thu hồi nợ, chấm dứt cho vay, xử lý nợ. Đặc điểm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của các ngân hàng thương mại Cho vay khách hàng cá nhân có một số đặc điểm riêng, khác biệt với nhiều loại hình cho vay khác như sau: Đối tượng cho vay: Cá nhân, cá nhân là chủ hộ kinh doanh.
Quy mô dư nợ cho vay: hầu hết các khoản cho vay khách hàng cá nhân có quy mô nhỏ( so với tín dụng bán buôn), số lượng khoản vay lớn. Mục đích cho vay: Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh của các cá nhân, hộ gia đình. Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, khách hàng vay sẽ kỳ vọng có thu nhập cao hơn trong tương lai, thúc đẩy chi tiêu tiêu dùng hoặc đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngược lại, khi nền kinh tế đi vào suy thoái, khách hàng sẽ xu hướng giảm tiêu dùng, đầu tư vào sản xuất kinh doanh, tăng cường tiết kiệm, hạn chế vay mượn từ Ngân hàng nhằm giảm rủi ro tài chính trong kinh tế suy thoái.
Sản phẩm của cho vay khách hàng cá nhân rất đa dạng và phong phú, đáp ứng nhu cầu vốn đa dạng của khách hàng bán lẻ. Tín dụng bán lẻ tại các Ngân hàng thương mại hiện có các sản phẩm tiêu biểu như: - Sản phẩm cho vay nhu cầu nhà ở: là sản phẩm cho vay các nhu cầu về nhà ở với mục đích để ở hoặc đầu tư nhỏ, bao gồm: mua nhà ở, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở (đã hình thành, chưa hình thành) giữa khách hàng với bên bán là cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức, chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở, xây dựng, cải tạo, sửa chữa nhà ở. 11 - Sản phẩm cho vay mua ôtô: hỗ trợ khách hàng có nhu cầu vay vốn để mua ô tô phục vụ nhu cầu đời sống hoặc phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh. - Sản phẩm sản xuất kinh doanh: cho vay đối với cá nhân, hộ sản xuất kinh doanh có nhu cầu vay vốn để bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Sản phẩm cho vay du học: cho vay vốn đối với khách hàng cá nhân, nhằm đáp ứng nhu cầu chứng minh năng lực tài chính, thanh toán chi phí học tập và sinh hoạt phát sinh trong quá trình học tập của du học sinh. - Sản phẩm cho vay tiêu dùng tín chấp: là sản phẩm vay vốn đối với khách hàng cá nhân có nhu cầu vay vốn phục vụ đời sống với nguồn trả nợ là thu nhập từ tiền lương (thưởng, phụ cấp) thường xuyên, ổn định hàng tháng/quý và các khoản thu nhập hợp pháp khác. - Sản phẩm cho vay đầu tư và kinh doanh chứng khoán: là sản phẩm cho nhà đầu tư vay bằng đồng Việt Nam để kinh doanh chứng khoán và ứng trước tiền. - Sản phẩm chiết khấu giấy tờ có giá: mua giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của khách hàng đáp ứng nhu cầu của các khách hàng với hình thức chiết khấu có hoàn lại và chiết khấu không hoàn lại.
Các giấy tờ có giá bao gồm: kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, và các giấy tờ có giá khác. - Sản phẩm cho vay bảo đảm bằng giấy tờ có giá, thẻ tiết kiệm: sản phẩm nhằm đáp ứng ngay tức thời nhu cầu ứng trước tiền gửi của khách hàng bằng cách cầm cố giấy tờ có giá, thẻ tiết kiệm. - Nghiệp vụ bảo lãnh cá nhân: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng (Bên được bảo lãnh) dịch vụ bảo lãnh theo yêu cầu của bên thứ ba (Bên nhận bảo lãnh) trong các lĩnh vực giao dịch nhà đất, sản xuất kinh doanh, thương mại. như: bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
- Phát hành thẻ tín dụng: là sản phẩm kết hợp giữa tín dụng và thanh toán. Nghĩa là khách hàng được quyền chi tiêu trước, trả tiền sau thông qua 12 phương thức chi trả bằng thẻ với một hạng mức nhất định. - Các sản phẩm tín dụng khác Rủi ro trong hoạt động tín dụng bán lẻ: Xét về tổng thể, tín dụng bán lẻ có mức độ rủi ro thấp hơn tín dụng bán buôn do rủi ro tín dụng được phân bổ trên nhiều đối tượng khách hàng. Tuy nhiên, khi ta so sánh trên cạnh từng khoản vay riêng biệt thì rủi ro của từng khoản cấp tín dụng bán lẻ lại cao hơn so với khoản tín dụng bán buôn.
Điều này xuất phát từ úy tín, tính bài bản chuyên nghiệp, sức mạnh tài chính trong sản xuất kinh doanh của khách hàng tổ chức luôn cao hơn khách hàng bán lẻ. Môi trường pháp luật điều chỉnh hành vi trong sản xuất kinh doanh của khách hàng tổ chức đầy đủ và sâu rộng hơn so với khách hàng cá nhân, nên việc thẩm định cho vay các khách hàng cá nhân có phần khó khăn hơn các khách hàng bán buôn. Lãi suất cho vay: Do quy mô của các khoản cấp tín dụng thường nhỏ hơn so với các khoản cấp tín dụng bán buôn(trừ những khoản cho vay để mua bất động sản), dẫn tới chi phí cho vay (về thời gian, nhân lực thẩm định, quản lý khoản vay) thường cao hơn, dẫn tới lãi suất cho vay bán lẻ thường cao hơn lãi suất cho vay các khách hàng tổ chức. Hạn mức cho vay khách hàng cá nhân: là số tiền tối đa mà các ngân hàng thương mại cam kết cho khách hàng vay.
Hạn mức vay của khách hàng cá nhân được được xác định trên yếu tố như: nhu cầu vốn vay, khả năng trả nợ, tài sản đảm bảo Đối với các hình thức vay: Hiện các ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng cho khách hàng bán lẻ chủ yếu qua ba hình thức: Hạn mức thấu chi, vay theo món, vay theo hạn mức. Số tiền cho vay được ngân hàng xác định bằng tổng nhu cầu vốn của phương án sử dụng vốn trừ( -) đi vốn tự có của khách hàng, trừ(-) đi vốn khách hàng huy động từ nguồn khác. Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Trước đây tại Việt Nam, cho vay khách hàng cá nhân là mảnh đất màu mỡ, tuy nhiên chưa được khai phá đúng mức. Nguyên nhân là do trước đây, mức độ phổ biên dịch vụ ngân hàng trên phạm vi đại lý và dân số tại nước ta còn khiêm tốn so với chuẩn của khu vực và thế giới.
Đây là thực trạng trung của các nền kinh tế có mức độ phát triển kinh tế chưa cao như nước ta trong những năm trước đây. Trong khi đó, phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ cần có sự đầu tư lớn vào mạng lưới, dịch vụ, nhân sự và công nghệ hiện đại để triển khai có hiệu quả. Do đó, trong bối cảnh nhu cầu tiềm năng lớn, chi phí dịch vụ cá nhân tính trên giao dịch còn cao, ít mang lại hiệu quả với đa số ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Ngược lại, việc cho vay khách hàng tổ chức với các dự án đầu tư lại “nhàn” hơn và có lợi nhuận mà lại ít rủi ro hơn so với cho vay bán lẻ, đặc biệt là cho vay các tổ chức kinh tế nhà nước (DNNN), vốn được ngầm định là không thể phá sản và nhà nước bảo lãnh cho các khoản vay.
Điều này là do quy mô, nhân lực ngân hàng chưa nhiều, tập trung giải ngân các khách hàng tổ chức truyền thống với quy mô món vay lớn, dư nợ cao, số lượng khách hàng ít, hiệu quả mang lại cao hơn so với tín dụng bán lẻ. Vì vậy, trong những năm trước đây, hầu hết các NHTM tại nước ta tập trung chủ yếu phục vụ các khách hàng bán buôn, bỏ ngỏ mảng bán lẻ đầy tiềm năng. Tuy nhiên, tình hình đã thay đổi nhiều trong những năm gần đây. Hoạt động ngân hàng bán lẻ đã và đang được các NHTM tập trung đầu tư khai thác, phát triển rất mạnh mẽ.
Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến trong những năm trở lại đây, nền vốn của các ngân hàng thương mại tăng trưởng mạnh mẽ, đòi hỏi phải có tăng trưởng mạnh trong hoạt động cấp tín dụng. Trong khi đó, thị trường tín dụng bán buôn đã bão hòa, cạnh tranh rất khốc liệt, gay gắt, thế 14 mạnh nằm trong các ngân hàng thương mại nhà nước, có truyền thông cho vay bán buôn do có lợi thế về quy mô vốn, lịch sử quan hệ. Viêc cho vay khách hàng tổ chức kinh tế, tài trợ các dự án ngày càng phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn.