Chương 1. Tổng quan về hiệu quả hoạt động TTTM tại NHTM. Thực trạng hiệu quả hoạt động TTTM tại NHTM cổ ph n Đ u tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TTTM tại NHTM cổ ph n Đ u tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TTTM TẠI NHTM 1.
Tổng quan về hoạt động TTTM tại NHTM TMQT là hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá và đem lại lợi ích cho các bên [8]. Trong TMQT, xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho nước ngoài; còn nhập khẩu chính là việc mua hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài. Hoạt động này ph n nào giải quyết được mâu thuẫn giữa quy mô sản xuất với ranh giới có hạn của thị trường nội địa, giữa tốc độ phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật với khả năng có hạn về sức lao động có trình độ… được sử dụng nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất của mỗi nước. Nó còn giải quyết được mâu thuẫn giữa sự phân bổ về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên và cơ cấu nhu c u theo lãnh thổ về tài nguyên thiên nhiên.
Trong đó xuất khẩu được coi là hoạt động rất cơ bản của TMQT, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Khái niệm hoạt động TTTM Với vai trò to lớn đem lại nguồn thu ngoại tệ chủ yếu, góp ph n chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân, thúc đẩy sản xuất trong nước, phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước… TMQT đang ngày càng được quan tâm và trở thành hoạt động trọng tâm của nhiều quốc gia. Một trong những mắt xích quan trọng tham gia vào hoạt động TMQT là các NHTM. NHTM tham gia TTTM quốc tế, đây được xem là một trong những chức năng quan trọng nhất liên quan trực tiếp đến quan hệ kinh tế đối ngoại do các NHTM thực hiện.
Mặc dù ngoại thương được hình thành và bắt nguồn từ các hoạt động nội thương nhưng có những sự khác nhau đáng kể và chính từ sự khác nhau đó mà NHTM với vai trò trung gian c n phải cung ứng các dịch vụ TTTM để giúp cho các bên tham gia vào TMQT thuận lợi trong quá trình này. TTTM nói chung là một hiện tượng kinh tế khách quan, gồm tập hợp tổng thể các chính sách, biện pháp và hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thương mại trong một hoặc một số hay tất cả các công đoạn của quy trình tái sản xuất từ đ u tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc 8 cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi [7]. TTTM của NHTM liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, trong phạm vi nội dung luận văn sẽ nghiên cứu về TTTM trong lĩnh vực xuất nhập khẩu của NHTM, trên hai phương diện chính là: tài trợ tài chính thông qua hoạt động và tài trợ thông qua cung ứng dịch vụ TTQT. Trên cơ sở đó, hoạt động TTTM của NHTM được định nghĩa là các hình thức ngân hàng hỗ trợ cho doanh nghiệp hoạt động TMQT từ khi hình thành dự án, cung ứng vốn cho quá trình sản xuất đến bước thanh toán cuối cùng giữa các bên thông qua các phương thức như: nhờ thu, tín dụng chứng từ, bảo lãnh quốc tế… Mỗi nước có một hệ thống tiền tệ riêng, không đồng nhất, với năng lực tài chính của người mua và người bán ở các nước khác nhau cũng không giống nhau, ngoài ra còn có những hạn chế về ngôn ngữ, môi trường văn hóa, phong tục tập quán, luật pháp, chế độ kinh tế - chính trị… khác biệt.
Chính vì vậy, hoạt động TTTM của các NHTM có vai trò rất quan trọng trong quá trình TMQT. Các hình thức TTTM của NHTM Hoạt động TTTM của NHTM có thể được phân loại theo các tiêu thức khác nhau, theo chủ thể nhận tài trợ có thể chia thành tài trợ xuất khẩu và tài trợ nhập khẩu. Hoạt động tài trợ xuất khẩu Tài trợ xuất khẩu bao gồm các loại hình dịch vụ tài trợ cung ứng cho nhà xuất khẩu, khuyến khích phát triển xuất khẩu hàng hóa. NHTM tài trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu thông qua các hình thức sau: Thứ nhất, tài trợ ứng trước trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ Sau khi lập xong các chứng từ hàng hoá, vận chuyển, bảo hiểm… nhà xuất khẩu sẽ nộp lên ngân hàng của mình để nhờ thu hộ tiền.
Ngân hàng của nhà xuẩt khẩu sẽ chuyển đến ngân hàng của nhà nhập khẩu (hoặc ngân hàng giao dịch) với chỉ thị giao chứng từ khi đã thanh toán (điều kiện D/P) hoặc chấp nhận thanh toán (điều kiện D/A). Trong nghiệp vụ này, ngân hàng tham gia chủ yếu với tư cách trung gian, thực hiện theo chỉ thị của khách hàng. Tuy nhiên, trong thanh toán liên quan đến yếu tố thời gian, chính điều này làm nảy sinh nhu c u vốn đối với nhà xuất khẩu. Nhà xuất khẩu lúc này có thể yêu c u ngân hàng đáp ứng một ph n giá trị bộ chứng từ nhờ thu làm đảm bảo.
9 Tín dụng ứng trước trong phương thức nhờ thu có thể xem như chiết khấu từng ph n, nhà xuất khẩu sử dụng hình thức này để tìm kiếm nguồn tài trợ ngắn hạn phục vụ nhu c u tiền mặt tạm thời. Thứ hai, nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu Khi thỏa thuận giữa các bên tham gia xuất – nhập khẩu chấp nhận có các hối phiếu kỳ hạn không hủy ngang, với hối phiếu này khi chưa đến hạn thanh toán, nhà xuất khẩu có thể mang chúng đến ngân hàng phục vụ mình xin chiết khấu. Ở hình thức này ngân hàng mua lại hối phiếu trước khi đến hạn thanh toán tức là mua lại các khoản nợ phải đòi, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ nhận được số tiền chiết khấu sau khi trừ đi lãi và phí chiết khấu. Thứ ba, chiết khấu bộ chứng từ hàng hoá Ngân hàng cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu trên cơ sở chiết khấu bộ chứng từ hàng hoá trước khi đến hạn thanh toán.
Với hình thức này ngân hàng tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu có thể thu hồi được vốn nhanh tương tự chiết khấu hối phiếu. Lãi suất chiết khấu phụ thuộc vào phương thức chiết khấu: Phương thức chiết khấu có truy đòi: Ngân hàng sau khi thực hiện chiết khấu bộ chứng từ, nếu không được bên nước ngoài thanh toán khi đến hạn sẽ quay lại đòi nhà xuất khẩu, lãi suất chiết khấu trong trường hợp này thường thấp. Phương thức chiết khấu miễn truy đòi: Đây là trường hợp mua đứt bộ chứng từ, ngân hàng sẽ phải gánh chịu mọi rủi ro nếu bên nước ngoài không thanh toán khi đến hạn và sẽ không có quyền đòi lại tiền của khách hàng, lãi suất chiết khấu trong trường hợp này thường cao. Thứ tƣ, factoring – bao thanh toán xuất khẩu Factoring (bao thanh toán xuất khẩu) là một hình thức tài trợ xuất khẩu ngắn hạn.
Bản chất factoring là nghiệp vụ mua lại các khoản phải thu của nhà xuất khẩu trên cơ sở hợp đồng xuất khẩu hàng hóa / dịch vụ của nhà xuất khẩu với nhà nhập khẩu. Factoring bao gồm các dịch vụ sau: Ứng trước tiền trên cơ sở giá trị (các) khoản phải thu Quản lý (các) khoản phải thu Thu hộ 10 Đảm bảo rủi ro tín dụng Nhà nhập khẩu thông qua đại lý bao thanh toán Hoạt động factoring chỉ phù hợp với các doanh nghiệp đã chiếm lĩnh được thị trường rộng, sử dụng cho những hoạt động xuất khẩu thường xuyên theo định kỳ hợp đồng ngắn hạn và cho nhiều nhà nhập khẩu khác nhau trong cùng một nước hoặc nhiều nước trong cùng một thời điểm. Khi thực hiện nghiệp vụ factoring, doanh nghiệp sẽ được hưởng những ưu thế chính: - Nhận tiền ngay sau khi giao hàng, giúp tăng nhanh vòng quay vốn lưu động, hạn chế rủi ro thanh toán, cải thiện hiệu quả kinh doanh và đáp ứng yêu c u xuất khẩu theo mùa vụ. - Được ngân hàng hỗ trợ quản lý hộ công nợ và thu nợ (các khoản phải thu) hiệu quả, giảm chi phí quản lý, thời gian và nguồn lực, chủ động kế hoạch tài chính do dự đoán được dòng tiền, cải thiện được bảng cân đối kế toán do đây không phải là khoản nợ trên bảng cân đối.
- Gia tăng lợi thế cạnh tranh khi bán hàng theo phương thức trả chậm mà không lo ngại ảnh hưởng đến vốn kinh doanh. Thứ năm, forfaiting – bao thanh toán tuyệt đối Forfaiting là hình thức tài trợ xuất khẩu dựa trên việc chiết khấu các khoản nợ dài hạn phát sinh do xuất khẩu máy móc, thiết bị có giá trị lớn. Khi nhập thiết bị có giá trị lớn đối với nhà nhập khẩu là vấn đề khó khăn, bởi vậy theo thỏa thuận nhà xuất khẩu bán thiết bị dưới hình thức trả góp, tiền được trả d n từng kỳ có kèm theo lãi. Để hỗ trợ tài chính cho nhà xuất khẩu, ngân hàng sẽ mua lại khoản nợ này, đây chính là nghiệp vụ forfaiting.
Như vậy forfaiting có thể hiểu là mua không hoàn lại các khoản thanh toán c n đòi, hay được định nghĩa như sau: Forfaiting là dịch vụ tài trợ xuất khẩu thông qua chiết khấu các khoản phải thu xuất khẩu bằng hối phiếu, kỳ phiếu và các công cụ chuyển nhượng khác với điều kiện miễn truy đòi người bán, theo mức lãi suất cố định, giá trị chiết khấu có thể lên đến đến 100% giá trị hợp đồng. Đặc điểm của forfaiting: - Chuyển các khoản thu xuất khẩu trả chậm thành trả ngay, cải thiện khả năng 11 thanh khoản, ngân quỹ cho nhà xuất khẩu. - Giúp nhà xuất khẩu tránh được rủi ro liên quan đến khoản phải thu. - Nhà xuất khẩu được tài trợ tới 100% giá trị xuất khẩu.
- Khoản tài trợ forfaiting không là khoản nợ trên bảng cân đối tài chính của nhà xuất khẩu. - Giảm thiểu được rủi ro lãi suất và tỷ giá do được thanh toán ngay và áp dụng lãi suất cố định. - Nhà xuất khẩu thoát khỏi công việc quản lý tín dụng - Thu hồi ngay được vốn và mở rộng tín dụng trung dài hạn tăng thị ph n. - Giảm được chi phí bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.
Hoạt động tài trợ nhập khẩu Tài trợ nhập khẩu bao gồm các loại hình dịch vụ tài trợ cung ứng cho nhà nhập khẩu, tạo điều kiện nhập khẩu máy móc thiết bị, hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước.