phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, luận văn đƣợc viết thành ba chƣơng, các chƣơng có liên quan với nhau, tạo cơ sở cho nhau, nhƣ sau: - Chƣơng 1: Mở rộng cho vay hộ sản xuất của các NHTM. - Chƣơng 2: Thực trạng mở rộng cho vay hộ sản xuất của Agribank Huyện Anh Sơn Nghệ An - Chƣơng 3: Giải pháp mở rộng cho vay hộ sản xuất ở Agribank Huyện Anh Sơn Nghệ An 7 CHƢƠNG 1 MỞ RỘNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HỘ SẢN XUẤT TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 1. Khái niệm hộ sản xuất Hộ sản xuất là chủ thể kinh tế phổ biến trong xã hội.
Hộ là những ngƣời trong một mái nhà, có cùng huyết thống, có sở hữu tài sản và kinh tế liên quan đến nhau. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ những nhóm ngƣời sản xuất tự cung tự cấp, hộ sản xuất đa dạng hóa các phƣơng thức sản xuất, đóng góp nhiều hơn cho xã hội. Hộ sản xuất, hay hộ gia đình, theo khái niệm của Luật dân sự năm 2015, là chủ thể kinh tế mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức trong hoạt động sản xuất của một số lĩnh vực nông lâm, ngƣ nghiệp và một số lĩnh vực kinh tế khác đƣợc pháp luật quy định là chủ thể dân sự khi tham gia các lĩnh vực này. Trong quan hệ kinh tế, dân sự, hộ tham gia thông qua ngƣời đại diện, thƣờng là chủ hộ.
Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự. Giao dịch dân sự do ngƣời đại diện của hộ sản xuất xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ sản xuất. Tài sản chung của hộ sản xuất gồm tài sản do các thành viên cùng nhau tạo lập nên hoặc đƣợc tặng cho chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ. Quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ cũng là tài sản chung của hộ sản xuất.
Đặc điểm của hộ sản xuất Trong kinh tế Việt Nam hiện nay, trên 70 % dân số sản xuất kinh tế thuộc lĩnh vực nông nghiệp. Do vậy, sản phẩm của các hộ chiếm tỷ trọng lớn. Hộ đƣợc thành lập theo sự phát triển tự nhiên của xã hội, càng ngày càng 8 phức tạp. Các thành viên thƣờng quy tụ thành các nhóm, phân chia theo thế hệ trong gia đình.
Các thành viên trong gia đình có vai trò độc lập, công bằng với nhau. Mỗi hộ có khả năng hoạt động và chịu trách nhiệm về việc sản xuất của mình. Quy mô sản xuất qua hộ ngày càng tăng, đối tƣợng ngành nghề cũng hết sức phức tạp và đa dạng. Chi phí sản xuất của hộ thấp, vốn đầu tƣ ít, chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi, xen vào đó là các nghề khác lúc nông nhàn.
Trình độ sản xuất của hộ ở mức thấp, chủ yếu sản xuất thủ công, quy mô nhỏ, khồng đƣợc đào tạo bài bản. Quy mô vốn giữa các vùng cũng có sự khác biệt do điều kiện từng nơi. Điều đó dẫn đến việc tích tụ vốn ở những vùng thuận lợi và phân tán vốn ở những vùng khó khăn lạc hậu. Quy mô cũng bị hạn chế ở nguồn vốn đầu tƣ.
Khi dòng vốn từ các hoạt động chính sách của Nhà Nƣớc bị hạn chế ở số lƣợng cũng nhƣ thời gian cấp vốn. Hộ sản xuất không thể tự gọi vốn từ bên ngoài. Đó là một điểm yếu lớn của hộ sản xuất trong quá trình hội nhập kinh tế thị trƣờng. Trình độ sản xuất của hộ nhìn chung còn thấp.
Hộ sản xuất hiện nay nói chung vẫn hoạt động sản xuất kinh doanh theo tính chất truyền thống, thái độ lao động thƣờng bị chi phối bởi tình cảm đạo đức gia đình và nếp sinh hoạt theo phong tục tập quán của làng quê. Hộ sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền đời, chƣa biết áp dụng cao khoa học công nghệ vào sản xuất. Từ những đặc điểm trên, ta có thể thấy, kinh tế hộ sản xuất rất linh hoạt, dễ mở rộng do chí phí thấp và vốn bỏ ra ít. Kinh tế hộ rất đa dạng, nhƣng thiếu đầu tƣ vốn và khoa học công nghệ.
Kinh tế hộ rất cần sự đầu tƣ từ các Chính sách Nhà Nƣớc. Phân loại hộ sản xuất Hộ xuất có đặc điểm rất đa dạng. Đa dạng về lĩnh vực hoạt động, quy mô vốn, khả năng vận dụng nguồn lực và khoa học công nghệ vào sản xuất,… 9 Do vậy, việc phân loại hộ sản xuất sẽ làm căn cứ để xây dựng các chính sách kinh tế nhằm đầu tƣ phát triển có hiệu quả. Chúng ta có thể phân loại nhƣ sau: 1.
Căn cứ vào mục tiêu hoạt động của hộ - Hộ sản xuất tự cung tự cấp: Với một đất nƣớc còn kém phát triển nhƣ Việt Nam, một số vùng miền, dân cƣ vẫn còn nghèo nàn lạc hậu. Hộ gia đình sản xuất chủ yếu để phục vụ nhu cầu đời sống sinh hoạt của họ, điển hình là cộng đồng bà con dân tộc thiểu số. Với trình độ còn thấp, sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, nguồn vốn từ các chính sách Nhà Nƣớc cũng nhƣ vốn vay Ngân hàng rất hạn chế. Do vậy, hiệu quả sản xuất không cao, thặng dƣ sản xuất chỉ đủ phục vụ cho đời sống gia đình.
Các hộ chƣa tham gia vào chuỗi hoạt động kinh doanh nên đây là một tiềm năng to lớn để Nhà nƣớc thực hiện các chính sách thúc đẩy kinh tế. - Hộ nông dân bán tự cung tự cấp: Nhƣ theo chiều hƣớng phát triển của thị trƣờng, nếu các hộ sản xuất vƣợt quá nhu cầu gia đình, họ sẽ mang đi trao đổi trên thị trƣờng để lấy nhu cầu khác. Ở khu vực nông thôn, ngƣời nông dân chủ yếu thuộc về đối tƣợng này. Kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.
Hộ đã bắt đầu có phản ứng với thị trƣờng nhƣ đã bắt đầu đầu tƣ vào các sản phẩm có lợi nhuận hơn. Với nền tảng đã có sẵn, hộ bán tự cung tự cấp đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi thúc đẩy kinh tế thị trƣờng, chuyên môn hóa. - Hộ chủ yếu sản xuất: Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, hộ chủ yếu tập trung sản xuất các mặt hàng phù hợp với nhu cầu thị trƣờng nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Đây là những hộ có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế thị trƣờng phát triển, chuyên môn hóa ngành nghề và lao động.
Tập trung nguồn lực có vai trò đẩy mạnh các khía cạnh kinh tế, mang lại thặng dƣ lớn cho nền kinh tế quốc dân. Căn cứ vào yếu tố tự nhiên Dựa vào các yếu tố kinh tế xã hội, có thể phân chia hộ sản xuất thành 10 hai loại chính: Hộ sản xuất vùng thành thị và vùng nông thôn - Hộ sản xuất vùng thành thị: Với hơn 20% dân số sống ở thành thị, các hộ ở thành thị có ít tài nguyên đất hơn vùng nông thôn, dân cƣ tập trung đông đúc nên nhu cầu của thị trƣờng hoàn toàn khác. Các hộ ở đây chủ yếu cung cấp các sản phẩm về dịch vụ nhƣ du lịch, chăm sóc, giáo dục,… và buôn bán là chủ yếu. Với sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị, ngành nghề của các hộ càng ngày càng đa dạng, không những đáp ứng nhu cầu trong nƣớc mà còn cả nhu cầu nƣớc ngoài.
- Hộ sản xuất vùng nông thôn: Nƣớc ta có khoảng 80% dân cƣ vùng nông thôn. Kinh tế chủ yếu là sản xuất thuần nông, tiểu thủ công nghiệp. Các hộ sản xuất phục vụ nhu cầu bản thân và cung cấp cho các vùng nông thôn khác và vùng đô thị. Với nền kinh tế phụ thuộc nông nghiệp, kinh tế vùng nông thôn đƣợc Nhà Nƣớc chú trọng đầu tƣ nên càng ngày càng đóng góp nhiều hơn vào GDP.Căn cứ vào thu nhập của hộ Dựa vào thu nhập, có thể phân chia hộ giàu – khá – trung bình –nghèo.
Tuy nhiên việc tính thu nhập của các hộ khá khó khăn, tính chất giàu nghèo ở đô thị và nông thôn cũng khác nhau.Vai trò của hộ sản xuất - Cầu nối chuyển từ nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa: Nền kinh tế tự nhiên bắt đầu từ các nhóm nhỏ tự cung tự cấp, khi sản phẩm vƣợt qua nhu cầu của hộ lúc đó mới đƣợc buôn bán trao đổi trên thị trƣờng. Do vậy, kinh tế hộ sản xuất là cầu nối quan trọng để đi lên kinh tế thị trƣờng. Kinh tế hộ là cầu nối giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn và nguồn nhân lực. Khai thác tiềm năng, tận dụng nguồn lực tài nguyên, vốn, đất đai, thúc đẩy phát triển xã hội.
- Giải quyết việc làm ở nông thôn: Thất nghiệp luôn là vấn đề đau đầu 11 đối với các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển nhƣ Việt Nam. Thất nghiệp làm hao tổn phúc lợi xã hội, làm manh nha cho các hoạt động phi pháp. Hiện nay, lao động Việt Nam đang trong tình trạng “Thừa thầy thiếu thợ”. Các doanh nghiệp không thể đáp ứng đủ nhu cầu lao động hay chất lƣợng lao động cao của họ không đƣợc đáp ứng, khi đó, kinh tế tại các hộ gia đình chính là lối thoát cho thất nghiệp.
Với sự chủ động cao, kinh tế hộ sản xuất sử dụng hiệu quả nguồn lao động sẵn có của mình. Thúc đẩy chuyển dịch mô hình từ hộ sản xuất lên các mô hình khác cao hơn nhƣ kinh tế trang trại. - Hộ sản xuất thúc đẩy kinh tế hàng hóa: Khi sản phẩm vật chất của các hộ gia đình vƣợt quá nhu cầu của hộ, lúc đó các hộ sẽ đi trao đổi trên thị trƣờng. Chính từ đặc điểm của hộ sản xuất là quy mô nhỏ và chi phí thấp tạo nên tính đa dạng và linh hoạt hết sức.
Các sản phẩm làm ra đáp ứng đƣợc nhu cầu khác nhau của thị trƣờng, góp phần tạo nên sự đa dạng và sôi động của thị trƣờng. Với cơ chế thị trƣờng hiện nay, hộ cần phải đặt ra các mục tiêu cho mình đó là sản xuất cái gì, sản xuất nhƣ thế nào và sản xuất cho ai. Để làm đƣợc điều này, các hộ sản xuất phải không ngừng nâng cao chất lƣợng sản phẩm đáp ƣng nhu cầu thị trƣờng. - Hộ sản xuất là một thành phần không thể thiếu trong nền kinh tế thị trƣờng.
Đây là thành phần tế bào cấu nên các thành phần kinh tế khác. Với số lƣợng lớn hộ sản xuất với quy mô càng ngày càng tăng. Kinh tế hộ đóng góp lớn vào ngân sách Nhà Nƣớc.