Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị marketing Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị marketing cho sản phẩm nước gạo rang TH true RICE tại thị trường Bình Định Chưng 3: Đề xuất giải pháp marketing cho sản phẩm nước gạo rang TH true RICE tại thị trường Bình Định e 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ MARKETING 1. Khái quát về marketing 1. Khái niệm về marketing Cho đến nay marketing có nhiều định nghĩa nhau tùy theo quan điểm nghiên cứu. Sau đây là một số khái niệm marketing phổ biến.
- Theo Hiệp hội Marketing Mỹ - AMA thì: Marketing là một hệ thống tổng thể các hoạt động của tổ chức được thiết kế nhằm hoạch định, đặt giá, xúc tiến và phân phối các sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của thị trường mục tiêu và đạt được các mục tiêu của tổ chức. - McCarthy (1975) định nghĩa: Marketing là quá trình thực hiện các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức thông qua việc đoán trước các nhu cầu của khách hàng hoặc người tiêu thụ để điều khiển các dòng hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu từ nhà sản xuất tới các khách hàng hoặc người tiêu thụ. - Theo Philip Kotler (2007): Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi. Định nghĩa này bao trùm cả marketing trong sản xuất và marketing xã hội và nó dựa trên những khái niệm cốt lõi như sau: nhu cầu, mong muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ, thị trường, marketing và những người làm marketing.
Nói tóm lại, Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác. Vai trò của marketing Muốn thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp và các nhà kinh doanh cần hiểu biết cặn kẽ về thị trường, về những nhu cầu và mong muốn của khách hàng, về nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh. Ngày nay, các doanh nghiệp phải hoạt động trong một môi trường cạnh tranh quyết liệt và có những thay đổi nhanh chóng về khoa học – công nghệ, những đạo luật mới, những chính sách quản lý thương mại mới và sự trung thành của khách hàng ngày càng giảm sút. Hoạt động marketing trong doanh nghiệp đóng vai trò quyết định đến vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.
Bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, lập danh mục hàng hoá đến việc thực hiện sản xuất, phân phối và khi hàng hoá được bán, hoạt động marketing vẫn được tiếp tục, cho nên chức năng quản trị marketing có liên quan chặt chẽ đến các lĩnh vực quản trị khác trong doanh nghiệp và nó có vai trò định hướng, kết hợp các chức năng khác để không chỉ nhằm lôi kéo khách hàng mà còn tìm ra các công cụ có hiệu quả thoả mãn nhu cầu khách hàng từ đó đem lại lợi nhuận cho Công ty. Nói tóm lại, chức năng quản trị marketing đóng vai trò rất quan trọng và là một trong bốn chức năng không thể thiếu trong các doanh nghiệp (chức năng sản xuất, chức năng tài chính, quản trị nhân sự và chức năng marketing). Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải chú ý phát triển chức năng marketing nếu muốn tồn tại và phát triển trên thị trường. Quá trình Marketing trong doanh nghiệp Marketing lấy khách hàng làm trung tâm, bản chất của Marketing là thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng.
Theo Philip Kotler (2007), muốn thực hiện điều này quá trình Marketing trong doanh nghiệp phải đảm bảo thực hiện tốt 5 bước cơ bản: R => STP => MM => I => C - R (Research) - Hoạt động nghiên cứu marketing: Nghiên cứu là xuất e 9 phát điểm của tiếp thị và là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng, nếu công tác nghiên cứu thị trường được làm tốt, nó cung cấp đầy đủ thông tin chính xác giúp cho doanh nghiệp xác định được thị hiếu của người tiêu dùng và đưa ra chiến lược tốt để tham gia thị trường mà doanh nghiệp đang hướng đến trong tương lai. - STP (Segmentations, Targeting, Positioning) - Phân khúc thị trường, xác định thị trường mục tiêu và định vị thương hiệu: Từ những kết quả nghiên cứu thị trường Marketing, doanh nghiệp cần phải phân tích tình hình về thị trường và các đối thủ cạnh tranh trong cùng một phân khúc thị trường mà doanh nghiệp đang hướng đến. Nhờ vậy sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về nhu cầu riêng của nhóm khách hàng khác nhau để thỏa mãn khách hàng tốt hơn đối thủ. Từ đó doanh nghiệp sẽ phải tiến hành chọn phân khúc thị trường nào phù hợp với mục tiêu và nguồn lực mình nhất để theo đuổi.
Và chọn ra thị trường mục tiêu mà doanh nghiệp xác định và tập trung mọi nỗ lực để đáp ứng. Ngoài ra doanh nghiệp phải sử dụng những nỗ lực của marketing để xây dựng hình ảnh sản phẩm và có một vị trí khác biệt so với sản phẩm của đối thủ trong nhận thức của khách hàng. - MM (marketing mix) - Marketing hỗn hợp: là tập hợp các yếu tố biến động có thể kiểm soát được mà doanh nghiệp sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu nhằm đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đã hoạch định từ trước. Các công cụ đó bao gồm: chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối và chiến lược xúc tiến.
- I (implementation) - Triển khai thực hiện: triển khai những chiến lược, doanh nghiệp thực hiện các hoạt động marketing trong phạm vi, thời gian, ngân sách, và chất lượng đã hoạch định. Từ đó sẽ tiến hành chiến lược Marketing đi vào thực tế. - C (control) - Kiểm soát: bước cuối cùng trong quy trình marketing là e 10 kiểm soát. Doanh nghiệp cần phải tiếp nhận các thông tin phản hồi từ thị trường cũng như là mức độ chấp nhận sản phẩm của doanh nghiệp từ đó sẽ tiến hành đánh giá, đo lường kết quả hoạt động của marketing có đạt được mục tiêu hay không, cũng như là rút kinh nghiệm cho hoạt động tiếp theo.
Quản trị marketing 1. Khái niệm quản trị marketing Theo Philip Kotler (2007): Quản trị Marketing là quá trình phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra việc thi hành các biện pháp nhằm thiết lập, củng cố và duy trì những cuộc trao đổi có lợi với người mua được lựa chọn để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Như vậy, quản trị Marketing có liên quan trực tiếp đến các vấn đề sau đây: - Nắm bắt những biến động (tăng, giảm) của nhu cầu thị trường; - Gợi mở, kích thích và điều hòa nhu cầu của thị trường; - Đề ra các biện pháp nhằm tác động đến cầu của thị trường sao cho doanh nghiệp có thể đạt được các mục tiêu đặt ra; - Kiểm tra việc thực hiện các chiến lược, kế hoạch và các biện pháp Marketing. Các bước của tiến trình quản trị marketing trong doanh nghiệp 1.
Phân tích cơ hội marketing Quá trình phân tích các cơ hội thị trường bao gồm hai bước là phát hiện thị trường mới và đánh giá khả năng cuả thị trường. - Phát hiện thị trường mới Trước khi bước vào thị trường mới, một công ty phải nghiên cứu thị trường đó kỹ càng để phát hiện ra những khả năng kinh doanh phù hợp với năng lực của mình. Nếu công ty đã có vị trí trên thị trường rồi, họ cũng tìm các cơ hội kinh doanh mới để tạo ra một vị thế an toàn, vì thị trường luôn e 11 luôn biến đổi. Có thể nói, trên thị trường luôn luôn có các cơ hội kinh doanh.
Vấn đề là ở chỗ doanh nghiệp có kịp thời phát hiện ra hay không và cơ hội đó có phù hợp với năng lực của doanh nghiệp hay không? - Đánh giá khả năng đáp ứng cơ hội thị trường của công ty Trên thị trường luôn có các cơ hội kinh doanh khác nhau. Vấn đề là các cơ hội đó có phù hợp với công ty hay không, tức là công ty có khả năng tham gia thị trường với ưu thế cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh hay không… Nói cách khác, công ty phải xem xét đến mục tiêu và tiềm năng cuả công ty. Để xác định cơ hội hay nguy cơ marketing, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích môi trường marketing bên ngoài công ty. Môi trường marketing bên ngoài công ty bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô.
- Môi trường marketing vĩ mô gồm các yếu tố, các lực lượng xã hội rộng lớn, có tác động đến toàn bộ môi trường vi mô và các quyết định marketing của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không thể kiểm soát, thay đổi được các yếu tố của môi trường vĩ mô. Các yếu tố trong môi trường vĩ mô mang lại những cơ hội mới cũng như các thách thức đối với các doanh nghiệp. Vì doanh nghiệp không thể thay đổi được môi trường vĩ mô, do vậy phải tìm cách thích ứng với nó thì mới có thể tồn tại và phát triển được.
Có sáu nhóm cấu thành trong môi trường marketing vĩ mô là môi trường tự nhiên, nhân khẩu, kinh tế, công nghệ, văn hóa - xã hội và chính trị - pháp luật. Đặc điểm và xu thế của môi trường marketing vĩ mô ảnh hưởng mạnh đến: + Nhu cầu cụ thể và khả năng thanh toán của khách hàng. + Đặc điểm cạnh tranh của ngành. + Việc lựa chọn thị trường mục tiêu và thiết kế chiến lược và chương trình marketing để phục vụ thị trường mục tiêu đã chọn.
e 12 - Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố có quan hệ trực tiếp đến hoạt động Marketing của công ty và ảnh hưởng đến khả năng phục vụ khách hàng. Đó là các nhà cung cấp ứng, những người môi giới, các khách hàng, các đối thủ cạnh tranh, các công chúng trực tiếp. Khác với môi trường vĩ mô, doanh nghiệp có thể tác động đến môi trường vi mô thông qua các chính sách, chiến lược kinh doanh của mình. Trong tiến trình phân tích môi trường bên ngoài, đặc biệt là phân tích môi trường ngành, các nhà hoạch định chiến lược marketing cần hướng đến một trong những mối quan tâm quan trọng nhất trong tiến trình phát triển chiến lược, đó là xác định các yếu tố giới hạn sự thành công (hay còn gọi là các yếu tố cơ bản của thành công).