Chương 1: Cơ sở lý luận chung về marketing dịch vụ. Chương 2: Thực trạng chính sách marketing dịch vụ thông tin di động tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Đắk Nông. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách marketing dịch vụ thông tin di động tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Đắk Nông trong thời gian tới. Tổng quan tài liệu Dịch vụ thông tin di động của VNPT đã được triển khai ở Việt Nam từ năm 1996.
Nhưng các nghiên cứu liên quan đến marketing dịch vụ thông tin di động tại Trung tâm Kinh doanh VNPT Đắk Nông hiện nay chưa có, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các giải pháp kỹ thuật để nâng cao chất lượng, dịch vụ giá trị gia tăng trên nền mạng viễn thông, nội dung dịch vụ. Về góc độ kinh doanh và marketing của dịch vụ thông tin di động thì phần đa các công trình đều nghiên cứu theo từng nội dung như: Hành vi người tiêu dùng, sự thoả mãn về chất lượng dịch vụ, marketing hỗn hợp … Marketing dịch vụ truyền hình thông tin di động không nằm ngoài lĩnh vực marketing dịch vụ nói chung, vì thế để hoàn thành luận văn, tác giả cũng tham khảo và nghiên cứu những đề tài nghiên cứu trước đây về lĩnh vực marketing dịch vụ. Liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu tác giả đã tham khảo những đề tài: Tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm (2013) với đề tài: “Giải pháp marketing mix phát triển dịch vụ băng rộng di động của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam”, luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, của đã nghiên 5 cứu thực trạng của thị trường dịch vụ thông tin di động và hoạt động marketing cho sản phẩm dịch vụ 3G, tìm ra được một số nguyên nhân vì sao người tiêu dùng không chọn dịch vụ của họ và đưa ra một số giải pháp marketing nhằm lôi kéo khách hàng chú ý đến sản phẩm của Tập đoàn VNPT. Tác giả Phạm Thị Lan (2011) đã nghiên cứu đề tài trong luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình “Một số giải pháp Marketing phát triển dịch vụ giá trị gia tăng của công ty dịch vụ viễn thông Vinaphone”, đã chỉ ra những kinh nghiệm phát triển dịch vụ giá trị gia tăng trên dịch vụ viễn thông ở các nước trên thế giới, tác giả cũng chỉ ra những tồn tại chủ quan cũng như khách quan của hoạt động marketing dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động của VNPT, và từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các hoạt động marketing, ngoài ra tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị đối với Nhà nước nhằm hỗ trợ sự phát triển hoạt động marketing cho dịch vụ đó.
Giáo trình “Quản trị Marketing định hướng giá trị” của nhóm biên soạn: PGS. Lê Thế Giới, TS. Nguyễn Xuân Lãn, Ths. Võ Quang Trí, Ths.
Đinh Thị Lệ Trâm, Ths. Phạm Ngọc Ái; Giáo trình nêu ra quan điểm tiếp cận theo định hướng giá trị trong quản trị Marketing, tập trung làm rõ mối quan hệ giữa các hoạt động Marketing và quá trình sáng tạo giá trị cho khách hàng và doanh nghiệp. Đồng thời tổng hợp một cách có hệ thống các hoạt động Marketing theo cách tiếp cận quản trị và chiến lược, thể hiện rõ vai trò và những liên kết thực sự giữa Marketing và thành công của tổ chức. Đặc biệt, làm rõ cách thức cụ thể để tạo ra giá trị cho khách hàng và doanh nghiệp thông qua việc triển khai phát triển các sản phẩm, dịch vụ cũng như định giá để từ đó truyền thông và chuyển giao giá trị một cách tốt nhất đến khách hàng thông qua chuỗi cung ứng và kênh phân phối và hệ thống truyền thông cổ động.
Giáo trình “Quản trị chiến lược” của nhóm biên soạn PGS. Lê Thế 6 Giới, TS. Nguyễn Thanh Liêm, ThS. Trần Hữu Hải; nghiên cứu tập trung một số nội dung liên quan tại Chương 3: Phân tích môi trường bên ngoài; chương 4: Phân tích bên trong; Chương 5: Tạo dựng lợi thế cạnh tranh thông qua các chiến lược chức năng.
Các báo cáo tài chính về hoạt động của VNPT Đắk Nông và Trung tâm Kinh doanh VNPT Đắk Nông, hoạt động kinh doanh và marketing của dịch vụ thông tin di động trong những năm gần đây, một số bài báo nhận định về chất lượng của dịch vụ thông tin di động so với những dịch vụ khác trên các diễn đàn cũng như trên các trang báo mạng, website của vnpt: http://vnpt.vn 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ VÀ MARKETING DỊCH VỤ 1. Khái niệm Dịch vụ được Kotler và Amstrong (1991) định nghĩa như sau: “Dịch vụ là những hoạt động hoặc lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất nhất định” Dịch vụ có thể nằm trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi sản phẩm vật chất. Người ta phân biệt hai thái cực – một đầu chỉ hàng hoá hiện hữu hoàn toàn và đầu kia chỉ dịch vụ hoàn toàn.
Một sản phẩm có thể chứa nhiều phần dịch vụ hơn hay ít hơn tuỳ thuộc vào bản chất của hoạt động sản xuất kinh doanh ra nó. Ranh giới giữa hàng hoá và dịch vụ ngày càng mờ dần bởi vì các công ty ngày càng đưa ra nhiều những hỗn hợp sản phẩm và dịch vụ để cạnh tranh trên thị trường. Vô Hàng Bảo hiểm tuyến không, Tư vấn Bưu điện Giáo dục Vật chất hoàn toàn Dịch vụ hoàn toàn Muối, Quần áo Ô tô Nhà hàng đồ hộp may sẵn Nhà ở Xe máy Quán ăn Hình 1. Ranh giới giữa hàng hoá và dịch vụ 1.
Đặc điểm của dịch vụ Khác với hàng hoá, dịch vụ có bốn đặc điểm riêng và quan trọng. Các đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến việc thiết kế các sản phẩm dịch vụ 8 hoặc các hoạt động dịch vụ một cách hiệu quả nhất. Tính vô hình: Các dịch vụ đều vô hình, không giống như những sản phẩm vật chất, chúng không thể nhìn thấy, cảm nhận, nếm, nghe, ngửi được trước khi khách hàng mua và sử dụng nó. Tính không thể tách rời: Dịch vụ thường sản xuất và tiêu dùng một cách đồng thời, khác hẳn với hàng hoá vật chất – sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều cấp trung gian, rồi sau đó mới đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Còn đối với dịch vụ, thì người cung ứng dịch vụ và khách hàng cùng có mặt đồng thời và cùng tham gia vào quá trình sản xuất dịch vụ, cho nên sự giao tiếp của hai bên tạo ra tính chất khác biệt của Marketing dịch vụ. Tính đa dạng và không ổn định về chất lượng: Chất lượng dịch vụ thường không xác định vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó. Cuộc phẫu thuật do một giáo sư đầu ngành thực hiện sẽ có chất lượng cao hơn nhiều so với một bác sỹ ngoại khoa mới vào nghề và các cuộc phẫu thuật của riêng giáo sư cũng sẽ khác nhau tùy theo tình trạng sức khoẻ và trạng thái tinh thần của ông lúc tiến hành ca mổ. Tính không lưu giữ được: Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp.
Do vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi thị trường có nhu cầu thì đem ra bán. Ví như một tổng đài điện thoại vẫn phải hoạt động khi không có cuộc điện thoại nào vào những giờ nhàn rỗi, nhưng doanh nghiệp viễn thông vẫn phải tính khấu hao, tính chi phí điện và nhân công để trực vận hành hệ thống tổng đài. Đặc tính này sẽ ảnh hưởng đến các chính sách của marketing dịch vụ như chính sách giá cước thay đổi thời gian, chính sách dự báo nhu cầu, kế hoạch bố trí nhân lực … 9 1. Hệ thống cung cấp dịch vụ Để cung cấp dịch vụ cho khách hàng, doanh nghiệp cần xây dựng một hệ thống cung cấp dịch vụ, bao gồm các thành tố sau: - Khách hàng: Là người thụ hưởng dịch vụ, là yếu tố quan trọng nhất cấu thành nên hệ thống dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ cao hay thấp chủ yếu dựa vào sự cảm nhận và lựa chọn của khách hàng. - Cơ sở vật chất: Bao gồm hệ thống các trang thiết bị cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ, địa điểm diễn ra giao dịch, các hoạt động và môi trường sử dụng dịch vụ,… - Người cung cấp dịch vụ: Bao gồm các nhân viên tuyến đầu, gián tiếp và cán bộ quản lý. Họ là cầu nối giữa doanh nghiệp và khách hàng, thay mặt doanh nghiệp phục vụ và làm hài lòng khách hàng. Tuy nhiên trong một số loại dịch vụ không cần sự xuất hiện của người cung cấp và khách hàng - Dịch vụ: Là mục tiêu và đồng thời cũng là kết quả của toàn hệ thống dịch vụ.
Dịch vụ được quyết định bởi các kịch bản đã vạch ra và kịch bản đó quy định và chi phối cấu trúc dịch vụ. Ngược lại cấu trúc dịch vụ lại chi phối sự hình thành của hệ thống dịch vụ. - Tổ chức nội bộ trong doanh nghiệp dịch vụ: Hệ thống này là vô hình và không định lượng được. Tổ chức này bao gồm các chức năng cơ bản như: quản trị nhân sự, tài chính, sản xuất, marketing, nghiên cứu phát triển,…Tổ chức nội bộ quyết định quá trình hoạt động sáng tạo để cung cấp dịch vụ của cả hệ thống dịch vụ.
- Các khách hàng khác: Các khách hàng đang cùng sử dụng dịch vụ luôn có tác động qua lại lẫn nhau, trong đó họ vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực đối với doanh nghiệp. KHÁI NIỆM VỀ MARKETING VÀ MARKETING DỊCH VỤ 1. Marketing - Khái niệm: Philip Kotler trong marketing căn bản đã khái niệm: Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi. - Quan điểm của Marketing là bán những gì thị trường cần chứ không phải bán những gì mình có.
- Hoạt động của Marketing bao trùm lên tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh chứ không phải chỉ ở khâu bán hàng, vì vậy marketing là hoạt động quản lý doanh nghiệp hướng ra thị trường, thị trường vừa là điểm xuất phát vừa là đích đến.