Tổng quan nghiên cứu

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những chuyển dịch cơ cấu lao động sâu sắc trên phạm vi toàn cầu, đặt ra yêu cầu cấp bách đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2018, cả nước đã tuyển sinh được hơn 2.200.000 người vào các bậc giáo dục nghề nghiệp, trong đó sinh viên tốt nghiệp trình độ cao đẳng đạt tỷ lệ có việc làm khoảng 87% với mức lương khởi điểm trung bình 6,0 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật, đặc biệt trong ngành dệt may tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu chuyển đổi tự động hóa và tiêu chuẩn sản xuất hiện đại.

Tại Trường Đại học Tiền Giang, công tác đào tạo ngành Công nghệ may trình độ cao đẳng nghề còn mang nặng tính tự lực, chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu sử dụng lao động thực tế. Mối quan hệ liên kết với doanh nghiệp chủ yếu dừng lại ở việc gửi sinh viên đi thực tập tốt nghiệp từ 4 đến 6 tuần vào cuối khóa học, dẫn đến tình trạng kỹ năng thực hành của người học chưa theo kịp công nghệ sản xuất chuyền may công nghiệp.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Giáo dục học của tác giả Nguyễn Thị Hồng Diễm, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Tuấn tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (bảo vệ tháng 05/2020), đã tập trung giải quyết bài toán cốt lõi này. Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát toàn diện thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy liên kết đào tạo ngành Công nghệ may giữa Trường Đại học Tiền Giang với các doanh nghiệp may trên địa bàn Thành phố Mỹ Tho, tiêu biểu là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nam of London và Công ty Cổ phần May Tiền Tiến trong giai đoạn 2016-2020. Ý nghĩa của công trình là thiết lập mô hình hợp tác đôi bên cùng có lợi, hướng đến mục tiêu chuẩn hóa trên 80% chuẩn đầu ra tương thích với tiêu chuẩn sản xuất thực tế và nâng tỷ lệ sinh viên có việc làm đúng chuyên ngành sau tốt nghiệp lên trên 90%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tổng hòa của các lý thuyết và mô hình đào tạo nghề tiên tiến trên thế giới cùng hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam:

Mô hình đào tạo kép (Dual System) của Cộng hòa Liên bang Đức do Heinrich Abel khởi xướng năm 1964, được luật hóa qua Bộ luật Đào tạo nghề năm 1969 và sửa đổi năm 2005. Mô hình này vận hành theo cơ chế song song: người học dành 2 đến 3 ngày học lý thuyết và thực hành cơ bản tại nhà trường, kết hợp 3 đến 4 ngày thực hành sản xuất trực tiếp tại doanh nghiệp, giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên Đức xuống mức thấp nhất Châu Âu.

Mô hình đào tạo luân phiên (Alternation) của Cộng hòa Pháp gắn kết trách nhiệm tài chính của doanh nghiệp thông qua cơ chế thuế học nghề bằng 0,5% quỹ lương (trong đó 0,2% dành cho nhà trường và 0,3% chi trả cho cán bộ kỹ thuật tham gia hướng dẫn).

Mô hình thị trường đào tạo nguồn nhân lực địa phương của Nhật Bản với cơ chế cầu nối 3 bên giữa cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và cơ quan dữ liệu việc làm.

Lý thuyết vòng xoắn ba (Triple Helix) về mối quan hệ cộng sinh giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp, kết hợp với khung đánh giá lợi ích kinh tế - xã hội 3 cấp độ (vi mô, trung gian, vĩ mô) do Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề Châu Âu (Cedefop) công bố qua khảo sát tại 21 quốc gia.

Các khái niệm chính yếu được chuẩn hóa bao gồm: Liên kết đào tạo nghề; Doanh nghiệp sản xuất may mặc; Chuẩn đầu ra theo năng lực thực hiện; Đào tạo theo đơn đặt hàng. Đồng thời, nghiên cứu bám sát Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VII, Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 và Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng với nguồn dữ liệu đa tầng, bảo đảm tính khách quan và khoa học:

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng. Tổng thể mẫu khảo sát gồm 100% cán bộ quản lý, giảng viên Bộ môn Công nghệ may thuộc Khoa Kỹ thuật Công nghiệp - Trường Đại học Tiền Giang (hơn 20 cán bộ, giảng viên) và toàn bộ đội ngũ cán bộ quản lý, trưởng phòng nhân sự, quản đốc phân xưởng tại 2 doanh nghiệp may chủ lực trên địa bàn Thành phố Mỹ Tho là Công ty TNHH Nam of London và Công ty Cổ phần May Tiền Tiến (hơn 30 cán bộ quản lý doanh nghiệp).

Nguồn dữ liệu: Phân tích tài liệu thứ cấp gồm Báo cáo tổng kết năm học và phương hướng thực hiện nhiệm vụ các năm học 2016-2017, 2017-2018, 2018-2019 của Trường Đại học Tiền Giang; Chương trình đào tạo cao đẳng ngành Công nghệ may gồm 98 tín chỉ; các văn bản thỏa thuận hợp tác và biên bản tiếp nhận sinh viên thực tập. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phiếu khảo sát Anket với thang đo Likert 5 mức độ và phỏng vấn sâu 10 chuyên gia quản lý giáo dục cùng lãnh đạo doanh nghiệp.

Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý tần số, tính điểm trung bình và tỷ lệ phần trăm (%), đối chiếu tương quan giữa đánh giá của nhà trường và doanh nghiệp. Toàn bộ quy trình khảo sát thực địa và xử lý dữ liệu được tiến hành nghiêm ngặt từ tháng 10/2019 đến tháng 05/2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng mối quan hệ hợp tác giữa Trường Đại học Tiền Giang và các doanh nghiệp may mặc tại Thành phố Mỹ Tho cho thấy những phát hiện then chốt sau:

Sự chênh lệch lớn giữa nhận thức và mức độ thực hiện: Trên 95% cán bộ giảng viên nhà trường và 90% đại diện doanh nghiệp khẳng định liên kết đào tạo là hoạt động vô cùng cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, mức độ triển khai thực tế chỉ đạt mức trung bình thấp, với khoảng 35% đến 40% các nội dung liên kết được thực thi thường xuyên.

Cơ cấu nội dung liên kết mất cân đối nghiêm trọng: Trong 8 nội dung liên kết được đánh giá, khâu gửi sinh viên đi thực tập sản xuất và thực tập tốt nghiệp đạt tỷ lệ cao nhất (trên 85%). Ngược lại, các khâu mang tính cốt lõi như liên kết xây dựng chuẩn đầu ra chỉ đạt dưới 25%, liên kết xây dựng chương trình đào tạo đạt khoảng 20%, và đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp chỉ đạt mức khiêm tốn dưới 15%.

Hạn chế về nguồn lực cơ sở vật chất và công nghệ: Thiết bị thực hành tại các xưởng may của nhà trường chủ yếu là các dòng máy may cơ bản 1 kim, thiếu hụt các trang thiết bị tự động hóa chuyên dụng như máy may lập trình, máy trải vải tự động và hệ thống phần mềm giác sơ đồ vi tính CAD/CAM tiên tiến đang vận hành tại các nhà máy lớn.

Đội ngũ giảng dạy thiếu trải nghiệm sản xuất công nghiệp: Khoảng 70% giảng viên chuyên ngành ít có cơ hội tham gia thực tế dài hạn tại các dây chuyền may công nghiệp (từ 1 tháng trở lên mỗi năm), dẫn đến việc giảng dạy kỹ thuật chuyền may, quản lý chất lượng Lean và định mức lao động còn nặng tính lý thuyết.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ những nguyên nhân nội tại và khách quan. Về phía doanh nghiệp may tại Thành phố Mỹ Tho, đa phần các đơn vị chịu áp lực tiến độ đơn hàng xuất khẩu FOB và ODM rất lớn, nên e ngại việc tiếp nhận lượng lớn sinh viên thực tập dài ngày sẽ làm giảm năng suất chuyền may hoặc phát sinh chi phí phế phẩm. Về phía nhà trường, quy chế quản lý đào tạo còn thiếu tính linh hoạt, chưa có quỹ tài chính riêng để bồi dưỡng cho cán bộ kỹ thuật doanh nghiệp tham gia giảng dạy.

Dữ liệu khảo sát khi được tổng hợp qua bảng so sánh và biểu đồ cột đã phản ánh rõ rệt khoảng cách giữa điểm trung bình về mức độ cần thiết (đạt mức 4,52/5,0 điểm) và điểm trung bình về hiệu quả thực tế (chỉ đạt 2,41/5,0 điểm). Khi đặt cạnh các mô hình liên kết đào tạo thành công tại Việt Nam như Trường Cao đẳng nghề Cơ khí Nông nghiệp Vĩnh Phúc (hợp tác mạng lưới hơn 100 doanh nghiệp lớn) hay Trường Đại học FPT (đạt 98% sinh viên có việc làm với mức lương bình quân 8,3 triệu đồng/tháng), mối liên kết tại Trường Đại học Tiền Giang cho thấy vẫn đang vận hành theo hình thức một chiều, thiếu tính ràng buộc pháp lý và chưa xây dựng được cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ vào kết quả khảo sát thực chứng và bài học kinh nghiệm quốc tế, tác giả đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả liên kết đào tạo ngành Công nghệ may giai đoạn 2020-2025:

Nâng cao nhận thức và thiết lập Hội đồng tư vấn nghề nghiệp: Thành lập Hội đồng tư vấn chương trình ngành May cấp Khoa với sự tham gia của tối thiểu 3 cán bộ quản lý từ Công ty TNHH Nam of London, Công ty Cổ phần May Tiền Tiến và các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp Long Giang. Hội đồng duy trì họp định kỳ 2 lần/năm nhằm đạt mục tiêu 100% các bên thống nhất chiến lược đào tạo gắn liền nhu cầu sử dụng.

Tăng cường trao đổi thông tin và thiết lập sàn kết nối việc làm: Bộ môn Công nghệ may phối hợp cùng phòng ban chức năng xây dựng cổng thông tin thực tập - việc làm trực tuyến; định kỳ 6 tháng/lần tiến hành khảo sát dự báo nhu cầu tuyển dụng nhân sự may của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang với chỉ tiêu tiếp nhận từ 50 đến 80 sinh viên thực tập mỗi khóa.

Tái cấu trúc chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo theo hướng linh hoạt: Tăng thời lượng học phần thực hành, thực tập tại doanh nghiệp lên mức 35% đến 40% tổng thời lượng chương trình đào tạo (tương đương 35 đến 40 tín chỉ thực tế tại chuyền sản xuất). Mời chuyên gia kỹ thuật doanh nghiệp trực tiếp tham gia biên soạn đề cương chi tiết và tham gia đánh giá đồ án tốt nghiệp của sinh viên.

Phát triển năng lực đội ngũ giảng viên và chuyên gia thực tế: Ban Giám hiệu ban hành quy chế cử 100% giảng viên cơ hữu ngành May đi thực tế tại các nhà máy may từ 4 đến 8 tuần/năm nhằm cập nhật công nghệ mới. Đồng thời, nhà trường cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm và chi trả thù lao giảng dạy thỏa đáng cho ít nhất 10 cán bộ kỹ thuật xí nghiệp tham gia hướng dẫn thực hành.

Liên kết chia sẻ cơ sở vật chất, tài chính và đào tạo theo đơn đặt hàng: Thiết lập hợp đồng gia công thử nghiệm và chia sẻ xưởng thực nghiệm; khuyến khích các doanh nghiệp tài trợ máy may chuyên dùng, vải mẫu và quỹ học bổng trị giá từ 50 đến 100 triệu đồng/năm. Đổi lại, nhà trường cam kết cung ứng nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao theo đúng đơn đặt hàng tuyển dụng hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Ban Giám hiệu và đội ngũ quản lý đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng kỹ thuật: Cung cấp khung phương pháp luận và cẩm nang giải pháp thực tế để chuyển đổi chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng, giúp nâng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đạt trên 85%.

Lãnh đạo doanh nghiệp và Trưởng phòng Nhân sự ngành dệt may: Tham khảo mô hình hợp tác đào tạo tại chỗ nhằm cắt giảm từ 30% đến 50% chi phí tuyển dụng và đào tạo lại nhân sự mới, đồng thời chủ động đặt hàng nguồn nhân lực quản lý chuyền may đạt chuẩn.

Cán bộ quản lý Nhà nước tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo: Sử dụng dữ liệu thực chứng để tham mưu ban hành các chính sách ưu đãi thuế, quỹ phát triển kỹ năng nghề và cơ chế liên kết 3 bên cấp địa phương theo đúng Luật Giáo dục nghề nghiệp.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Giáo dục học và Quản lý giáo dục: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, kỹ thuật thiết kế bảng hỏi khảo sát Anket và cách xử lý dữ liệu thống kê trong đánh giá liên kết đào tạo nghề.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao mô hình đào tạo kép của Đức được đề xuất ứng dụng vào ngành Công nghệ may tại Tiền Giang?

Mô hình đào tạo kép phân chia rõ ràng: trường học đảm nhận 2 đến 3 ngày lý thuyết nền tảng, doanh nghiệp đảm nhận 3 đến 4 ngày thực hành công nghệ cao. Cách tiếp cận này giúp khắc phục triệt để tình trạng thiếu hụt máy may tự động hóa tại Trường Đại học Tiền Giang mà không đòi hỏi ngân sách đầu tư quá lớn từ Nhà nước.

Doanh nghiệp may tại Thành phố Mỹ Tho nhận được lợi ích kinh tế cụ thể nào khi tham gia liên kết?

Doanh nghiệp tham gia đào tạo sẽ tiết kiệm khoảng 30% chi phí tuyển dụng và rút ngắn thời gian thử việc của lao động mới. Sinh viên thực tập sau 2 đến 3 tuần làm quen có thể trực tiếp tham gia hỗ trợ năng suất chuyền may và tạo ra nguồn tuyển dụng kỹ thuật viên ổn định.

Làm thế nào để giảng viên đại học bắt nhịp kịp với công nghệ sản xuất hiện đại tại các nhà máy may xuất khẩu?

Giải pháp khả thi là áp dụng quy chế bắt buộc giảng viên đi thực tế tại nhà xưởng từ 4 đến 8 tuần/năm. Giảng viên trực tiếp cùng công nhân vận hành các dây chuyền Lean, thiết bị may tự động và phần mềm CAD chuyên dụng, từ đó tích hợp kiến thức thực tiễn vào bài giảng lý thuyết.

Trường Đại học Tiền Giang có thể giải quyết bài toán thiếu hụt máy móc chuyên dùng bằng cách nào?

Nhà trường cần đẩy mạnh thỏa thuận dùng chung thiết bị với Công ty TNHH Nam of London và Công ty Cổ phần May Tiền Tiến. Việc đưa sinh viên đến học các học phần chuyên sâu tại xưởng sản xuất của doanh nghiệp là giải pháp tối ưu giúp sinh viên tiếp cận 100% công nghệ thực tế.

Tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp sẽ thay đổi ra sao nếu triển khai đồng bộ các giải pháp?

Theo dữ liệu kiểm nghiệm từ các mô hình đào tạo liên kết tiêu biểu trên cả nước (đạt tỷ lệ việc làm từ 87% đến 98%), việc chuẩn hóa chương trình đào tạo theo sát nhu cầu nhà máy sẽ giúp nâng tỷ lệ sinh viên ngành May Đại học Tiền Giang có việc làm đúng chuyên ngành lên trên 90% với mức thu nhập từ 6,0 đến 8,5 triệu đồng/tháng.

Kết luận

Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về liên kết đào tạo nghề dựa trên các mô hình đào tạo kép, đào tạo luân phiên và lý thuyết vòng xoắn ba.

Phản ánh chính xác thực trạng liên kết đào tạo ngành Công nghệ may tại Trường Đại học Tiền Giang giai đoạn 2016-2020 qua dữ liệu khảo sát định lượng chi tiết.

Chỉ rõ khoảng cách lớn giữa nhận thức về sự cần thiết (trên 90%) và mức độ thực hiện các nội dung liên kết chuyên sâu (dưới 40%).

Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao, bao phủ từ đổi mới chương trình, phát triển đội ngũ đến chia sẻ cơ sở vật chất và cơ chế tài chính.

Kết quả kiểm nghiệm chuyên gia khẳng định trên 95% ý kiến đồng thuận về tính cấp thiết và tính khả thi của hệ thống giải pháp đề xuất.

Luận văn đã đóng góp một công trình khoa học nghiêm túc, tạo tiền đề thực tiễn quan trọng cho việc đổi mới phương thức đào tạo nghề may tại tỉnh Tiền Giang. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi Trường Đại học Tiền Giang và các doanh nghiệp đối tác khẩn trương ký kết hợp đồng đào tạo thí điểm trong giai đoạn 2020-2022 trước khi nhân rộng toàn diện đến năm 2025. Ban Giám hiệu nhà trường và lãnh đạo các doanh nghiệp dệt may trên địa bàn hãy chủ động hành động ngay hôm nay để cùng kiến tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam.