CHƯƠNG 1: KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Hoạt động tín dụng đã ra đời từ rất lâu tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về hoạt động tín dụng. Tín dụng xuất phát từ tiếng La Tinh Gredittum nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm.
Vì vậy, nó được hiểu là hoạt động vay mượn có trả lãi giữa người đi vay và người cho vay. Theo đó, người cho vay sẽ chuyển quyền sử dụng tiền và hàng hóa cho người đi vay trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận trước. Hết thời gian thỏa thuận, người đi vay có trách nhiệm hoàn trả cho người cho vay tiền và hàng hóa, đồng thời có kèm theo một khoản lãi. Tín dụng là hoạt động chính của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng có thể đem lại 70- 80 % thu nhập của ngân hàng. Tín dụng ngân hàng bao gồm: cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính, thư tín dụng. Trong đó, cho vay là hình thức chủ yếu trong các hoạt động tín dụng. Căn cứ theo Điều 3 khoản 1 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng (ban hành kèm theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN) thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi”.
Các hình thức tín dụng ngân hàng * Cho vay: Đây là hình thức cấp tín dụng phổ biến trong các loại hình tín dụng, trong đó ngân hàng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để 6 sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận trong hợp đồng với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay bao gồm có các hình thức sau: thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp, cho vay gián tiếp. Tín dụng ngân hàng Cho thuê tài Cho vay Bảo lãnh Chiết khấu Thư tín dụng chính Cho vay trực BL thực hiện tiếp từng lần HĐ LC trả ngay Cho vay hạn mức BL dự thầu LC trả chậm Cho vay luân chuyển LC tuần BL thanh toán hoàn Cho vay trả góp BL vay vốn LC giáp lưng Thấu chi BL chất lượng LC chuyển Cho vay gián SP nhượng tiếp LC hủy BL đối ứng. ngang Tháu chi LC không hủy ngang Sơ đồ 1.1: Phân loại tín dụng ngân hàng - Thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng được chi trội trong một giới hạn nhất định và trong một khoảng thời gian xác định trên tài khoản thanh toán của mình.
Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Khách hàng phải làm đơn xin ngân hàng hạn mức và thời gian thấu chi. Căn cứ việc đánh giá khách hàng: loại khách hàng, thu nhập của 7 khách hàng…, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức thấu chi trong một khoảng thời gian nhất định theo mức lãi suất thông báo của ngân hàng. Trong trường hợp khách hàng chi quá hạn mức thấu chi thì sẽ phải chịu lãi suất phạt và đình chỉ sử dụng hình thức này.
Số lãi phải trả = LS thấu chi x Thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi Thấu chi là một hình thức có nhiều ưu điểm. Nó rất linh hoạt, thủ tục đơn giản, không cần có TSĐB, phù hợp đối với các cá nhân, doanh nghiệp có thời gian và quy mô thu chi không phù hợp. Khi thiếu nguồn tiền tạm thời để thanh toán các khoản chi phí, thanh toán tiền hàng…, khách hàng có thể sử dụng thấu chi để chi trả các khoản phải trả trước mắt. Khách hàng của hình thức thấu chi là những đối tượng có thu nhập đều đặn, ổn định, có độ tin cậy cao.
Tuy vậy, khách hàng chỉ được chi quá trong giới hạn thấu chi mà mình được cấp, giới hạn này thường nhỏ và không đáp ứng được nhu cầu vốn lớn của khách hàng, đặc biệt đối với các khách hàng doanh nghiệp. - Cho vay trực tiếp từng lần: Đây là hình thức cho vay mà trong đó, mỗi lần vay khách hàng làm đơn và phương án sử dụng vốn gửi cho ngân hàng. Mỗi một khoản vay thì có một hồ sơ vay vốn riêng biệt. Đây là một hình thức vay vốn phù hợp với các đối tượng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên mà chỉ có nhu cầu vay vốn riêng lẻ, từng lần.
Trên cơ sở đơn xin vay vốn, phương án sản xuất kinh doanh và các hồ sơ, giấy tờ mà ngân hàng thu thập được, ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định, quyết định cho khách hàng vay vốn và xác định các yếu tố quy mô, thời hạn, lãi suất, tài sản đảm bảo… Số lượng cho vay = Nhu cầu vốn- Vốn CSH tham gia- Các nguồn vốn tham gia khác Nhu cầu vốn = Nhu cầu vốn đầu tư cho TSLĐ, TSCĐ- Giá trị TS và chí phí không thuộc đối tượng tài trợ của NH 8 Hình thức cho vay này có ưu điểm: thủ tục vay tương đối đơn giản và các món vay là riêng biệt nhau nên ngân hàng hoàn toàn có thể quản lý, theo dõi, giảm sát được các món vay. Tuy nhiên, bên cạnh đó, hình thức này không phù hợp đối với các đối tượng có nhu cầu vay vốn thường xuyên do mỗi lần vay vốn, khách hàng sẽ phải chuẩn bị hồ sơ vay vốn và thực hiện các quy trình thủ tục, điều này sẽ làm mất nhiều thời gian cho khách hàng. - Cho vay theo hạn mức: Đây là hình thức tín dụng mà trong đó ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng. Trên cơ sở phân tích kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vay vốn, tài sản đảm bảo, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức.
Trong hình thức cho vay theo hạn mức, khách hàng có thể tiến hành vay và trả nhiều lần, miễn đảm bảo tổng dư nợ tại mọi thời điểm không vượt quá hạn mức mà ngân hàng cấp cho khách hàng. Mỗi lần vay khách hàng sẽ trình bày cho ngân hàng phương án sử dụng vốn vay và các giấy tở, hóa đơn, chứng từ, trên cơ sở đó, ngân hàng sẽ giải ngân cho khách hàng. Đây là một hình thức vay vốn có nhiều ưu điểm, đặc biệt đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn thưởng xuyên để bổ sung vốn lưu động. Với phương thức cho vay theo hạn mức, khách hàng sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí trong quá trình làm hồ sơ vay vốn ngân hàng.
Tuy nhiên, ngân hàng gặp khó khăn trong quá trình quản lý do các lần vay vốn không tách biệt như hình thức cho vay từng lần. - Cho vay luân chuyển: Đối với hình thức vay vốn này, khi doanh nghiệp mua hàng có thể thiếu vốn, sẽ tiến hành vay vốn ngân hàng. Khi khách hàng thu được tiền từ bán hàng, doanh nghiệp sẽ trả nợ ngân hàng. Trong hình thức này, ngân hàng và khách hàng trên cơ sở quá trình luân chuyển hàng hóa và dòng tiền của doanh nghiệp sẽ thỏa thuận với nhau về phương thức cho vay, hạn mức, lãi suất.
9 Hình thức vay vốn này rất phù hợp đối với các đối tượng là các doanh nghiệp thương mại, mua và bán hàng thường xuyên và có nhu cầu vốn để nhập hàng. Hình thức cho vay luân chuyển tạo nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp vì khi nhập hàng doanh nghiệp chỉ cần gửi cho ngân hàng hóa đơn nhập hàng và số tiền cần vay. - Cho vay trả góp: Trong hình thức tín dụng này, ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng và cho phép khách hàng trả nợ thành nhiều lần trong một khoảng thời gian xác định. Cho vay tiêu dùng là một trong những hình thức khá phổ biến hiện nay của cho vay trả góp.
Hình thức cho vay trả góp phù hợp đối với khách hàng cá nhân, vay phục vụ mục đích tiêu dùng, nhưng chưa có khả năng thanh toán ngay tại thời điểm hiện tại, mà sẽ thanh toán khoản vay từng phần trong một khoản thời gian và lãi suất xác định. Tuy nhiên, đây là hình thức tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nó phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của khách hàng, và rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng tài sản mua trả góp. Khi khách hàng bị mất thu nhập, hoặc ốm đau thì ngân hàng có thể gặp rủi ro rất lớn, khó khăn trong việc tiếp cận khách hàng, khó khăn trong việc thu hồi tài sản thế chấp cho khoản vay.
Chính vì vậy lãi suất của loại hình này là khá cao. - Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay mà trong đó ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng thông qua một tổ chức trung gian. Hình thức này có nhiều ưu điểm trong trường hợp có đông khách hàng vay với nhu cầu vay vốn nhỏ, khách hàng phân tán. Ví dụ trường hợp thông qua các tổ chức như hội phụ nữ, hội nông dân…, ngân hàng sẽ cho các thành viên vay vốn.
So với các hình thức vay vốn khác, hình thức này có thể tiết kiệm một khoản chi phí khá lớn cho ngân hàng. Khách hàng có thể không cần tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng vì tổ chức trung gian có thể đứng ra lấy uy tín bảo đảm cho 10 khách hàng. Tuy vậy, trung gian có thể lạm dụng vốn vay ngân hàng để sử dụng sai mục đích như cho vay lại với lãi suất cao hơn để thu lợi. * Chiết khấu thương phiếu: Là hình thức mà theo đó ngân hàng ứng trước cho khách hàng số tiền bằng giá trị thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn.
Đối với ngân hàng thì đây là một nghiệp vụ cấp tín dụng khá an toàn do thương phiếu có tính thanh khoản cao. Ngoài ra, theo luật ngân hàng có thể truy đòi tất cả các đối tượng có mặt trên thương phiếu nên rủi ro tín dụng sẽ giảm bớt do có nhiều người chịu trách nhiệm trả nợ. Đối với doanh nghiệp, đây là một công cụ cấp tín dụng quan trọng giúp doanh nghiệp đảm bảo vốn vay để hoạt động kinh doan. Các doanh nghiệp thay vì phải chờ ngày đáo hạn mới thu được tiền thì có thể đem thương phiếu đến ngân hàng chiết khấu lấy tiền để có vốn giúp doanh nghiêp hoạt động bình thường.