Chương 1- TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về lâm sản ngoài gỗ 1. Một số khái niệm về lâm sản ngoài gỗ (Non - Timber Forest products, Non - Wood Forest products) - Lâm sản ngoài gỗ bao gồm “tất cả sản phẩm sinh vật (trừ gỗ tròn công nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng được dùng trong gia đình, mua bán, hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa xã hội”. Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý vùng đệm… thuộc về lĩnh vực dịch vụ của rừng” (Wickens, 1991).
- Trong hội nghị các chuyên gia LSNG của các nước vùng Châu Á, Thái Bình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 5-8/11/1991 đã thông qua định nghĩa về LSNG như sau: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest products) bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than. Lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ”. - “Thực vật rừng gồm tất cả các loài cây, loài cỏ, dây leo bậc cao và bậc thấp phân bố trong rừng. Những loài cây không cho gỗ hoặc ngoài gỗ còn cho các sản phẩm quý khác như nhựa Thông, quả Hồi, vỏ Quế hoặc sợi Song mây là thực vật đặc sản rừng” (Lê Mộng Chân, Vũ Văn Dũng, 1992) [8].
- Lâm sản ngoài gỗ là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ, cũng như các dịch vụ có được từ rừng và đất rừng. Dịch vụ Khoa L©m nghiÖp Kho¸ 2010 - 2012 n Lª V¨n Th¾ng 4 LuËn V¨n th¹c sü KHOA HäC trong định nghĩa này như là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom nhựa và các hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến những sản phẩm này (FAO, 1995). - Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người. Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi (Jenne H.
de Beer & Milanie J. - Lâm sản ngoài gỗ là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn, có ở rừng, ở đất rừng và ở các cây bên ngoài rừng (FAO, 1999). - Theo Trần Ngọc Hải (2000): “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (hiểu theo nghĩa rộng gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người. Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa mủ, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi…”.
- Theo Vũ Tiến Hinh và Phạm Văn Điển (2003) “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ lớn ở tất cả các hình thái của nó”. Theo các định nghĩa như đã nêu ở trên, LSNG là một phần tài nguyên rừng. Như vậy, đi tìm chỉ một định nghĩa cho Lâm sản ngoài gỗ là không thể. Định nghĩa này có thể thay đổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, vào quan điểm sử dụng, phát triển tài nguyên và nhu cầu khác.
Các loại sản phẩm ngoài gỗ sẽ ngày càng được tăng lên do sự tìm tòi, phát hiện giá trị của chúng để phục vụ cuộc sống cho con người, chúng gồm các sản phẩm qua chế biến hoặc không cần qua chế biến. Phân loại lâm sản ngoài gỗ Khoa L©m nghiÖp Kho¸ 2010 - 2012 n Lª V¨n Th¾ng 5 LuËn V¨n th¹c sü KHOA HäC Hiện nay, có rất nhiều loại LSNG được điều tra, phát hiện, khai thác và sử dụng. Đối tượng và mục tiêu sử dụng, nghiên cứu LSNG cũng rất đa dạng (người dân, thương nhân, nhà quản lý, nhà nghiên cứu…). Chính vì vậy, việc phân loại chúng có rất nhiều quan điểm khác nhau.
Dưới đây sẽ trình bày một số phương pháp phân loại LSNG đang được sử dụng phổ biến hiện nay: - Phương pháp phân loại LSNG theo hệ thống sinh: Đây là cách phân loại các LSNG theo hệ thống tiến hóa của sinh giới. Theo phân loại kinh điển, sinh giới được chia là hai giới chính: Động vật và thực vật. Giới động vật và giới thực vật, tuy rất phong phú và đa dạng nhưng đều có thể sắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ: Giới\Ngành\Lớp\Bộ\Họ\Loài. Ưu điểm của cách phân loại này là thấy được mối quan hệ thân thuộc giữa các loài và nhóm loài cùng sự tiến hóa của chúng.
Phương pháp này chú ý nhiều đến đặc điểm sinh học của loài. Nhược điểm là đòi hỏi người sử dụng phải có những hiểu biết nhất định về phân loại động, thực vật (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000) [9]. - Phương pháp phân loại LSNG theo nhóm giá trị sử dụng: Là cách phân loại mà các LSNG khác nhau không kể nguồn gốc trong hệ thống sinh, nơi phân bố… có cùng giá trị sử dụng thì được xếp trong cùng một nhóm. Ví dụ: Một hệ thống phân loại LSNG thực vật theo nhóm công dụng như sau: Nhóm cây cho lương thực, thực phẩm; nhóm cây cho sợi; nhóm cây cho ta-nanh; nhóm cây cho màu nhuộm; nhóm cây làm dược liệu; nhóm cây cho nhựa, sáp, sơn; nhóm cây dùng làm vật liệu nhẹ và thủ công mỹ nghệ; nhóm cây làm cản, cho bóng mát.
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ áp dụng và sử dụng nhiều kiến thức bản địa của người dân, nên người dân dễ nhớ, đồng thời khuyến khích được họ tham gia trong quá trình quản lý tài nguyên. Ngoài ra phương pháp này cũng được các nhà kinh doanh, nhà Khoa L©m nghiÖp Kho¸ 2010 - 2012 n Lª V¨n Th¾ng 6 LuËn V¨n th¹c sü KHOA HäC nghiên cứu LSNG quan tâm. Nhược điểm của phương pháp này chỉ mới nhấn mạnh tới giá trị sử dụng, mà chưa đề cập đến đặc điểm sinh vật học (đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố…) của các loài, nên khả năng nhận biết các loài gặp nhiều khó khăn hơn nữa một số loài có nhiều công dụng khi phân loại dễ bị trùng vào nhiều nhóm khác nhau. Hệ thống phân loại khác lại dựa vào các sản phẩm LSNG, như hệ thống phân loại đã thông qua trong Hội nghị LSNG Thái Lan, tháng 11/1991 (Bài giảng Lâm sản ngoài gỗ, 2002.
Dự án LSNG, Hà Nội). Trong hệ thống này LSNG được chia làm 6 nhóm: Nhóm 1- Các sản phẩm có sợi: tre nứa, song mây, lá và thân có sợi và các loại cỏ. Nhóm 2 - Sản phẩn làm thực phẩm: các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa, quả, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và có nấm. Các sản phẩm nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn được, trứng và côn trùng.
Nhóm 3 - Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật. Nhóm 4 - Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa dầu, nhựa mủ, ta- nanh và thuốc nhuộm, dầu béo và tinh dầu. Nhóm 5 - Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ, động vật sống, chim, côn trùng, lông mao, lông vũ, da, sừng, ngà, xương và nhựa cánh kiến đỏ. Nhóm 6 - Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc lá ở Ấn Độ).
Bốn năm sau, chuyên gia về lâm sản ngoài gỗ của FAO, là C.Chandrasekharan (FAO, 1995) đã đề xuất hệ thống phân loại LSNG gồm 4 nhóm chính như sau: ● Cây sống và các bộ phận của cây ● Động vật và các sản phẩm của động vật Khoa L©m nghiÖp Kho¸ 2010 - 2012 n Lª V¨n Th¾ng 7 LuËn V¨n th¹c sü KHOA HäC ● Các sản phẩm được chế biến (các gia vị, dầu thực vật…) ● Các dịch vụ rừng. Ở Ấn Độ người ta đề xuất một hệ thống phân loại LSNG tiêu chuẩn. Hệ thống phân loại này được chia làm hai nhóm chính: nhóm các sản phẩm (I) và nhóm các dịch vụ (II). (Bài giảng LSNG, 2002.
Dự án LSNG, Hà Nội) [3]. Trong đó nhóm (I) bao gồm 3 nhóm sản phẩm phụ đó là: (a) Lâm sản ngoài gỗ có nguồn gốc từ thực vật; (b) Lâm sản ngoài gỗ có nguồn gốc từ động vật và (c) Lâm sản ngoài gỗ có nguồn gốc từ khoáng vật. Nhóm II gồm các dịch vụ như: du lịch, giải trí, xem động vật hoang dã… Ở Việt Nam, khung phân loại lâm sản ngoài gỗ đầu tiên được chính thức thừa nhận bằng văn bản đó là “Danh mục các loài đặc sản rừng được quản lý thống nhất theo ngành”. Đây là văn bản kèm theo Nghị định 160- HĐBT ngày 10/12/1984 của Hội đồng bộ trưởng về việc thống nhất quản lý các đặc sản rừng (nay gọi là lâm sản ngoài gỗ).
Theo danh mục này đặc sản rừng được chia làm 2 nhóm lớn: Hệ cây rừng và Hệ động vật rừng. Mỗi nhóm lớn lại chia nhiều nhóm phụ sau: ● Hệ cây rừng: + Nhóm cây rừng cho nhựa, ta-nanh, dầu và tinh dầu như: thông, quế, hồi, tràm, đước, vẹt, trám, bạch đàn, bồ đề… + Nhóm cây rừng cho dược liệu như: ba kích, sa nhân, thiên niên kiện, thảo quả, hà thủ ô, đẳng sâm, kỳ nam, hoằng đằng… + Nhóm cây rừng cho nguyên liệu làm các loại hàng tiểu thủ công và mỹ nghệ như: song, mây, tre, trúc, lá bương… + Các sản phẩm công nghiệp được chế biến từ nguyên liệu có nguồn gốc từ các loài cây rừng như: cách kiến Shellac, dầu thông, tùng hương, dầu trong… Khoa L©m nghiÖp Kho¸ 2010 - 2012 n Lª V¨n Th¾ng 8 LuËn V¨n th¹c sü KHOA HäC ● Hệ động vật rừng: Bao gồm các nhóm động vật rừng cho da, lông, sừng, xương, ngà, thịt, xạ, mật; cho dược liệu như: voi, hổ, báo, trâu rừng, bò rừng, hươu, nai, rắn, trăn, kỳ đà, tắc kè, khỉ, nhím, vượn, ong rừng, các loài chim quý, các nhóm động vật rừng có đặc dụng khác. Mặc dù còn vài điểm chưa hợp lý, tuy nhiên có hệ thống phân loại LSNG trên là một mốc quan trọng, đánh giá sự tiến bộ về nhận thức, sự hiểu biết về LSNG của Việt Nam. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thuốc Trên thế giới, nghiên cứu về cây thuốc có nhiều thành công và quy mô rộng phải kể đến Trung Quốc. Có thể khẳng định Trung Quốc là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh.