CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN KHAI THÁC THỦY SẢN KHẨU THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VỀ MÔI TRƯỜNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về khai thác thuỷ sản Theo quy định tại khoản 18 và khoản 19 Điều 3 Luật thuỷ sản 2017: “Khai thác thủy sản là hoạt động đánh bắt hoặc hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản. Hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản là hoạt động thăm dò, tìm kiếm, dẫn dụ, vận chuyển nguồn lợi thủy sản đánh bắt trong vùng nước tự nhiên.
Nguyễn Văn Tư: “Đánh bắt thủy sản hay khai thác thủy sản là một hành động của con người (ngư dân) thông qua các ngư cụ, ngư thuyền và ngư pháp nhằm khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên”. Dương Tri Thảo: “Khai thác thủy sản là hoạt động của con người sử dụng các công cụ và nhiều phương pháp khác nhau để tác động đến đối tượng là các tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên khác nhau và môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội về các sản phẩm hàng hóa thủy sản” Như vậy, khai thác thuỷ sản là quá trình khai thác, nuôi trồng hoặc thu hoạch các nguồn tài nguyên sống từ môi trường nước như cá, tôm, cua, hàu và các loại động vật, thực vật khác sống dưới nước. Thông thường có hai hình thức chính trong khai thác thuỷ sản: khai thác thuỷ sản tự nhiên và nuôi trồng thuỷ sản. Khai thác thuỷ sản tự nhiên là hoạt động thu hoạch các loài cá hoặc các nguồn tài nguyên thuỷ sản tự nhiên từ môi trường tự nhiên như sông, hồ, biển và ao.
Bên cạnh đó, nuôi trồng thuỷ sản là quá trình nuôi trồng và chăm sóc các loài cá, tôm và các sinh vật thủy sản khác trong môi trường nhân tạo như ao, hồ, bể nuôi hoặc các hệ thống nuôi trồng khác. Nuôi trồng thuỷ sản thường bao gồm việc cung cấp thức ăn, quản lý môi trường nước, kiểm soát bệnh tật và thu hoạch sản phẩm khi chúng đạt đến kích thước hoặc tuổi cần thiết. Vì mục đích kinh tế, khai thác thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong cung cấp nguồn thực phẩm, tạo ra thu nhập tại các khu vực ven biển và nông thôn. Khái niệm về khai thác thuỷ sản xuất khẩu Theo Ths.
NCS Trương Quang Minh (2021): “Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ một quốc gia hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ quốc gia đó nơi được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Đây là loại hình thức kinh doanh quốc tế cơ bản được các doanh nghiệp lựa chọn nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ ra bên ngoài thị trường nội địa, giúp tăng doanh số bán hàng, đồng thời khai thác được tính kinh tế theo quy mô khi thị trường được mở rộng.” Theo quy định tại Điều 28 Luật Thương mại 2005 về xuất khẩu: “ Xuất khẩu là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Còn theo từ điển tiếng Việt thì xuất khẩu (hay còn gọi là xuất cảng): “là việc bán hàng hóa hay dịch vụ của một quốc gia sang quốc gia khác. Đây không phải là hoạt động bán hàng đơn lẻ mà là một hệ thống bán hàng có tổ chức có sự giảm sát quản lý của nhà nước cả bên trong lẫn bên ngoài với mục đích thu lợi nhuận, tăng ngoại tệ, phát triển kinh tế quốc gia,.” Ở mỗi góc độ tiếp cận khác nhau thì ta lại có những định nghĩa khác nhau về xuất khẩu.
Qua ba định nghĩa trên, có thể nói xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho người nước ngoài trên cơ sở dùng làm phương tiện thanh toán. Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là mua bán trao đổi hàng hóa. Khi sản xuất hàng hóa phát triển và việc trao đổi giữa các quốc gia mở rộng thì mở rộng được phạm vi ra ngoài biên giới của quốc gia và từ đó khai thác được lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Thực chất của xuất khẩu là sự trao đổi lao động kết tinh giữa các quốc gia thông qua trao đổi hàng hóa.
Trong đó các nước đang phát triển xuất khẩu hàng hóa dịch vụ của mình sang các nước phát triển nhằm phát huy tối ưu lợi thế tuyệt đối và tương đối của mình trong trao đổi buôn bán quốc tế. Theo từ điển tiếng Việt: “Thủy sản là nguồn lợi sinh vật sống trong nước. Theo vùng nước và độ muối, nguồn lợi thủy sản được chia thành hải sản, thủy sản nước lợ, thủy sản nước ngọt. Theo phân loại sinh vật, nguồn lợi thủy sản được phân chia thành nguồn lợi động vật (cá, thân mềm, giáp xác, bò sát, lưỡng cư.) và nguồn lợi thực vật 19 thuỷ sinh (rong, tảo).
Thủy sản là một ngành sản xuất nông nghiệp chuyên môn hóa hẹp, sản xuất ra nhiều loại sản phẩm hàng hóa thủy sản để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ. Các sản phẩm hàng hóa đa dạng do ngành thủy sản sản xuất ra bao gồm: các loại cá, các loại tôm, nhuyễn thể các loại và các thủy hải sản đặc biệt.” Từ cách tiếp cận trên ta có thể hiểu khai thác thuỷ sản xuất khẩu là quá trình khai thác và thu hoạch các loài sinh vật sống trong môi trường nước nhằm cung cấp nguyên liệu cho xuất khẩu. Quá trình này bao gồm việc đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và quy chuẩn xuất khẩu của các quốc gia nhập khẩu. Đây là một hoạt động quan trọng trong ngành thủy sản, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn thu nhập ngoại tệ và tạo ra cơ hội kinh doanh quốc tế cho các doanh nghiệp thủy sản.
Khái niệm phát triển bền vững về môi trường Theo quy định tại khoản 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.” Theo Tổ chức ngân hàng phát triển châu Á (ADB): "Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường. Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai". Phát triển bền vững là phát triển mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn đảm bảo tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Nói cách khác phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ.
Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội. phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường. Vậy qua các khái niệm trên, có thể kết luận phát triển bền vững về môi trường là việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, duy trì một nền tảng nguồn lực ổn định, tránh 20 khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh, duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác. Ngoài ra còn là việc hạn chế vấn đề nhiễm môi trường bao gồm cả ô nhiễm đô thị và khu công nghiệp, quản lý và xử lý tốt chất thải rắn, chất thải nguy hại, ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai.
Phát triển bền vững về môi trường là sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa và hợp lý giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường trong quá trình phát triển. Khái niệm xuất khẩu theo hướng phát triển bền vững về môi trường Từ quan điểm trên, có thể nêu khái niệm khai thác thuỷ sản xuất khẩu theo hướng phát triển bền vững môi trường như sau: “Khai thác thủy sản xuất khẩu theo hướng phát triển bền vững môi trường là hoạt các hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản đảm bảo tính bền vững về môi trường tự nhiên dựa trên cơ sở khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đồng thời quản lý hiệu quả và giảm thiểu phát thải, đáp ứng yêu cầu của quốc gia, cam kết môi trường quốc tế trong xuất khẩu. Xuất khẩu bền vững là sự duy trì nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu cao và ổn định, chất lượng tăng trưởng xuất khẩu ngày càng được nâng cao, góp phần tăng trưởng và ổn định kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường. Ngoài ra, xuất khẩu gắn với việc cải thiện môi trường, hạn chế khai thác tài nguyên thiên nhiên, nâng cao nhận thức về môi trường, đóng góp kinh phí cải thiện môi trường.
Việc tập trung vào việc thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ có tác động tích cực đến môi trường và duy trì được sự cân bằng với tài nguyên và tự nhiên. Mục tiêu chính là đảm bảo rằng quá trình xuất khẩu không gây hại hoặc gây ít tác động xấu đến môi trường, và thúc đẩy cải thiện môi trường và bảo vệ tài nguyên. Việc tăng cường hiệu suất sử dụng tài nguyên và giảm lượng chất thải cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu theo hướng bền vững về môi trường. Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn và chứng nhận liên quan đến quản lý tài nguyên, chất lượng sản phẩm, biến đổi khí hậu, quản lý chất thải, như chứng nhận ISO và các chứng nhận môi trường khác đảm bảo chất lượng và tính bền vững của sản phẩm xuất khẩu.
Nội dung xuất khẩu thuỷ sản theo hướng phát triển bền vững về môi trường 1. Phù hợp yêu cầu phát triển bền vững của quốc gia trong xuất khẩu thủy sản Khai thác thủy sản có vai trò quan trọng trong việc phục vụ nhu cầu xuất khẩu theo mục tiêu phát triển bền vững. Việc khai thác thủy sản bền vững không chỉ đảm bảo nguồn cung ổn định cho xuất khẩu, mà còn đảm bảo sự bền vững của nguồn lợi từ biển và đáp ứng các yêu cầu của thị trường quốc tế về môi trường và an toàn thực phẩm. Xuất khẩu thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững của ngành thủy sản.