phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý chung về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị nghiên cứu và triển khai. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động của Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm Hà Nội. Chƣơng 3: Rào cản và các giải pháp khắc phục của Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm Hà Nội khi chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA ĐƠN VỊ NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI 1. Đơn vị nghiên cứu và triển khai 1. Khái niệm Nghiên cứu và triển khai Thuật ngữ nghiên cứu và triển khai đã đƣợc hình thành từ lâu và đƣợc sử dụng khá phổ biến, đã có nhiều tác giả đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau về nghiên cứu và triển khai. Có thể nêu ra một số khái niệm điển hình sau đây Theo UNESCO và OECD, NC&TK là các hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hóa, xã hội và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới [19].
Trong đề tài nghiên cứu này, thuật ngữ “Nghiên cứu và Triển khai”, viết tắt là “NC&TK”, đồng nghĩa với thuật ngữ “Research and Development”, viết tắt là “R&D” của UNESCO và cũng đồng nghĩa với thuật ngữ “nghiên cứu và phát triển trong Luật Khoa học và công nghệ năm 2013. Kể từ phần này trở đi, đề tài dùng thống nhất thuật ngữ “NC&TK”. Theo Nghị quyết 51/HĐBT và Thông tƣ hƣớng dẫn số 1438/KHKT-TC giữa Liên bộ Bộ Tài chính và Ủy ban KHKT Nhà nƣớc, tổ chức NC&TK nhà nƣớc đƣợc tiến hành ba loại hoạt động: Nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, sản xuất thử và sản xuất một số sản phẩm có trình độ kỹ thuật cao hơn, nhƣng chƣa có điều kiện sản xuất đại trà. Điều này tiếp tục đƣợc khẳng định và phát triển ở Quyết định 134/HĐBT và đặc biệt là tại Nghị định 35/HĐBT.
Nhƣ vậy, theo các văn bản của Nhà nƣớc, tổ chức NC&TK nhà nƣớc là một loại hình tổ chức có chức năng sản xuất ra các sản phẩm KH&CN phục 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vụ cho toàn xã hội (với tƣ cách nhƣ một hoạt động công ích). Không phụ thuộc vào thành phần kinh tế, vào cấp trực thuộc, vào lĩnh vực KH&CN, cơ quan NC&TK có chức năng thực hiện nhƣ một khâu hoặc nhiều khâu của chu trình NC&TK. Các loại hình nghiên cứu và triển khai Hoạt động NC&TK bao gồm các loại hình: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm. Sự phân loại NCKH theo các loại hình nghiên cứu nhƣ trên đƣợc thống nhất sử dụng trên thế giới, giúp nhận thức rõ bản chất của NCKH, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, lập kế hoạch nghiên cứu.
Nghiên cứu cơ bản (Fundamental research)2 Nghiên cứu cơ bản (NCCB) là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tƣợng tự nhiên, xã hội và tƣ duy. Sản phẩm của NCCB có thể là khám phá, phát hiện, phát minh dẫn đến việc hình thành hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát, ảnh hƣởng đến nhiều lĩnh vực khoa học. NCCB đƣợc phân ra làm 2 loại: NCCB thuần túy và NCCB định hƣớng. - Nghiên cứu cơ bản thuần túy (Pure fundamental rearch) Nghiên cứu cơ bản thuần túy là những nghiên cứu về bản chất của sự vật giúp nâng cao nhận thức, chƣa bàn đến ý nghĩa ứng dụng.
- Nghiên cứu cơ bản định hướng (Oriented fundamental research) Nghiên cứu cơ bản định hƣớng là những NCCB đã dự kiến trƣớc mục 1. Vũ Cao Đàm (2007), Phƣơng pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 2. Quốc Hội (2013), Luận Khoa học và Công nghệ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đích ứng dụng nhƣ các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, kinh tế, xã hội… NCCB định hƣớng đƣợc chia làm hai loại: + Nghiên cứu nền tảng là nghiên cứu về quy luật tổng thể của một hệ thống sự vật nhƣ hoạt động điêu tra cơ bản về kinh tế, xã hội; + Nghiên cứu chuyên đề là nghiên cứu về một hiện tƣợng đặc biệt của sự vật nhƣ gen di truyền, bức xạ, vũ trụ… Nghiên cứu này vừa dẫn đến việc hình thành cơ sở lý thuyết, vừa dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa thực tiễn. Nghiên cứu ứng dụng (Applied research) NCƢD là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con ngƣời và xã hội.
Cần lƣu ý rằng, kết quả của nghiên cứu ứng dụng thì chƣa ứng dụng đƣợc. Để đƣa kết quả nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng thì còn phải tiến hành một loại hình nghiên cứu khác, đó là triển khai. Triển khai thực nghiệm (Technological experimental development)3 Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm công nghệ mới ở dạng mẫu. Triển khai là sự vận dụng các lý thuyết để đƣa ra các hình mẫu (prototype) với những tham số khả thi về kỹ thuật.
Hoạt động triển khai bao gồm 03 giai đoạn: - Tạo vật mẫu (prototype): Đây là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra đƣợc sản phẩm, chƣa quan tâm đến quy trình sản xuất và quy mô áp dụng. Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình công bố, tập 1, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Sản xuất thử loạt nhỏ (còn gọi là sản xuất “serie 0”): Đây là giai đoạn kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ, thƣờng gọi là quy mô sản xuất bán đại trà hay quy mô bán công nghiệp. Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu trong phần này đƣợc trình bày tại hình dƣới đây Nghiên cứu cơ bản thuần túy NGHIÊN CỨU Nghiên cứu CƠ BẢN nền tảng Nghiên cứu cơ bản định hƣớng Nghiên cứu chuyên đề NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG Tạo vật mẫu (prototype) TRIỂN KHAI Tạo quy trình sản xuất vật mẫu (pitlot) Sản xuất thử loạt nhỏ “serie 0” Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu4 Trên thực tế, có thể trong một đề tài nghiên cứu chỉ tồn tại một loại hình nghiên cứu, song cũng có thể tồn tại hai hoặc thậm chí cả ba loại hình nghiên cứu, giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Theo cách phân loại của UNESCO, hoạt động sản xuất thử sau khi thử nghiệm thành công các vật mẫu (prototype), không đƣợc kể vào hoạt động 4.
Vũ Cao Đàm (2007), Phƣơng pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com KH&CN mà thuộc chức năng của sản xuất. Tuy nhiên, để phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, khái niệm hoạt động Triển khai trong nghiên cứu này đƣợc mở rộng hơn so với quan điểm của UNESCO, bao gồm cả sản xuất thử các vật mẫu (Prototype). Mối quan hệ giữa NCCB – NCƯD – Triển khai5 Tiếp cận theo cách mà một sản phẩm từ khi đƣợc hình thành trong ý tƣởng của nhà nghiên cứu, rồi đƣợc nghiên cứu qua các giai đoạn và cuối cùng đƣợc đƣa ra thị trƣờng, thì trƣớc hết, nhà nghiên cứu cần nhận ra rằng thị trƣờng đang có nhu cầu về loại sản phẩm này, sau đó nhà nghiên cứu sẽ hình thành ý tƣởng tạo sản phẩm đó để áp ứng thị trƣờng. Để tạo ra sản phẩm này nhà nghiên cứu phải tiến hành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.
Và sản phẩm sẽ đƣợc dần hình thành qua từng loại hình nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai). - Nghiên cứu cơ bản là giai đoạn nhà nghiên cứu bắt đầu thực hiện các thao thác để đƣa ý tƣởng thành thực tế. Trong loại hình này, nhà nghiên cứu tạo ra một hệ thống lý thuyết về sản phẩm với những phân tích về thuộc tính, cấu trúc, quy luật hƣớng tới mục đích ứng dụng. - Nghiên cứu ứng dụng là giai đoạn dựa những tri thức, quy luật thu đƣợc từ giai đoạn nghiên cứu cơ bản về sản phẩm, đem áp dụng vào trong một môi trƣờng cụ thể (giống môi trƣờng thực tế) nhằm tìm hiểu về nguyên lý hoạt động của sản phẩm.
Thành công trong giai đoạn này, sản phẩm có thể trở thành một sản phẩm hoặc một giải pháp mới chƣa từng có với những thông số kỹ thuật hoàn toàn mới (đây chính là sáng chế hoặc giải pháp hữu ích, đƣợc cấp bằng sáng chế và đƣợc bảo hộ theo Luật Sở hữu Trí tuệ). Tuy nhiên, để đƣa sản phẩm này ứng dụng vào thực tế cần phải tiến hành một loại hình 5. Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình công bố tập 2, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu khác đó là triển khai. - Triển khai là giai đoạn vận dụng các quy luật thu đƣợc từ giai đoạn nghiên cứu cơ bản và các nguyên lý thu đƣợc từ giai đoạn nghiên cứu ứng dụng để đƣa ra sản phẩm mẫu (prototype), sau đó tạo ra công nghệ để chế tạo sản phẩm mẫu (pilot) và kết thúc là một lô số 0 sản xuất thử theo loại nhỏ (serie 0).
Thời gian này kéo dài khoảng từ 0,5 – 2 năm, đòi hỏi chi phí tài chính lớn và có sự tham gia của các tác giả nghiên cứu để kịp thời hoàn thiện các thông số kỹ thuật của cả sản phẩm và quy trình công nghệ. Kết thúc 3 giai đoạn nghiên cứu, lúc này sản phẩm đã hình thành; tuy nhiên, đây mới chỉ là mẫu vật có tính khả thi về kỹ thuật và đƣợc khẳng định là không còn xác suất rủi ro về mặt kỹ thuật. Để đƣa sản phẩm đó vào sản xuất công nghiệp thì còn phải nghiên cứu những tính khả thi khác. Phân biệt khái niệm “triển khai” và “Phát triển công nghệ” Chữ “D” trong cụm “NC&TK” đƣợc một số tác giả dịch là “Phát triển” là chƣa thoả đáng, bởi vì tuy viết là “D” nhƣng thực ra thuật ngữ này còn có tên gọi đầy đủ là “Technical Experimental Development”, về sau gọi là “Technological Experimental Development” gọi tắt là “Technological Development” hoặc “Development”, năm 1959, Giáo sƣ Tạ Quang Bửu đặt thuật ngữ tiếng Việt là “Triển khai kỹ thuật”, gọi tắt là “Triển khai”.
Giữa “Triển khai” và “Phát triển công nghệ” có sự khác nhau cơ bản cả về ý nghĩa lẫn chính sách tài chính.