Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế là một trong những nhiệm vụ cấp bách nhằm tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong giai đoạn 1990 - 2000, Việt Nam thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội nhằm thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Đến hết năm 2000, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 360 USD và đạt 400 USD vào năm 2002. Bước sang giai đoạn 2001 - 2005, Viện Nghiên cứu Chiến lược phát triển xác định mục tiêu đưa GDP bình quân đầu người đạt 600 USD, đòi hỏi tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7,2%/năm. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội ước tính khoảng 58 tỷ USD, trong đó nguồn vốn nội lực trong nước đóng vai trò quyết định, chiếm 60% (khoảng 35 tỷ USD), còn nguồn vốn nước ngoài giữ vai trò quan trọng, chiếm 40% (khoảng 23 tỷ USD). Đồng thời, mục tiêu đặt ra cho công tác huy động vốn qua kênh trái phiếu Chính phủ là đạt tối thiểu 5% GDP/năm (tương đương khoảng 15.000 tỷ đồng/năm).

Trong quản lý ngân sách nhà nước (NSNN), tình trạng mất cân đối thu - chi thường xuyên diễn ra do nguồn thu chủ yếu dựa vào thuế và phí (chiếm khoảng 20 - 22% GDP giai đoạn 2001 - 2002), trong khi tổng nhu cầu chi tiêu chiếm 26 - 28% GDP. Việc vay nợ dân cư thông qua hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN) bằng công cụ trái phiếu Chính phủ trở thành giải pháp thiết yếu để bù đắp bội chi ngân sách mà không phải phát hành thêm tiền mặt, từ đó tránh áp lực lạm phát và bình ổn giá cả thị trường.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tín dụng Nhà nước và vai trò của công tác huy động vốn thông qua công cụ trái phiếu Chính phủ.
  2. Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tây và các nhân tố chi phối hoạt động phát hành trái phiếu tại địa phương.
  3. Đánh giá thực trạng phát hành, thanh toán các loại trái phiếu, tín phiếu Chính phủ qua hệ thống KBNN Hà Tây giai đoạn 1996 - 2002.
  4. Xác định những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc về cơ chế phát hành, cơ cấu lãi suất và tổ chức thực hiện, làm căn cứ định hướng các giải pháp hoàn thiện.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động huy động vốn qua phát hành và thanh toán các loại công cụ nợ của Chính phủ, bao gồm tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc và công trái xây dựng tổ quốc.
  • Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, đề tài thực hiện tại hệ thống KBNN Hà Tây (bao gồm Văn phòng KBNN tỉnh và 13 KBNN cấp huyện trực thuộc). Về thời gian, dữ liệu phân tích tập trung chủ yếu vào giai đoạn 1996 - 2002, kết hợp các mốc số liệu giai đoạn 1991 - 1995 và mục tiêu phát triển đến năm 2005.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng lý thuyết về tín dụng Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tín dụng Nhà nước được định nghĩa là quan hệ tín dụng do cơ quan Tài chính thực hiện, trong đó Nhà nước đóng vai trò là chủ thể trực tiếp vay nợ của các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của NSNN, đồng thời Nhà nước cũng có thể đóng vai trò người cho vay. Về mặt bản chất, quan hệ tín dụng Nhà nước kết hợp chặt chẽ giữa nguyên tắc hoàn trả của tín dụng với các chính sách tài khóa của quốc gia.

Về khung pháp lý, khóa luận căn cứ vào hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật sau:

  • Quyết định số 07-HĐBT ngày 04/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập hệ thống Kho bạc Nhà nước.
  • Nghị định số 72/CP ngày 26/07/1994 của Chính phủ ban hành quy chế phát hành các loại trái phiếu Chính phủ.
  • Quyết định số 433/TC-KBNN ngày 25/08/1994 của Bộ Tài chính về việc phát hành trái phiếu kho bạc kỳ hạn 3 năm.
  • Quyết định số 122/TC-QĐ-KBNN ngày 01/02/1997 của Bộ Tài chính về phát hành trái phiếu kho bạc kỳ hạn 2 năm lãi suất 14%/năm.
  • Quyết định số 17/1999/QĐ-BTC ngày 05/02/1999 của Bộ Tài chính về phát hành trái phiếu kho bạc kỳ hạn 2 năm lãi suất 13%/năm.
  • Nghị định số 34/1999/NĐ-CP ngày 12/05/1999 của Chính phủ và Thông tư số 56/1999/TT-BTC ngày 12/05/1999 của Bộ Tài chính về phát hành Công trái xây dựng tổ quốc năm 1999 kỳ hạn 5 năm.
  • Quyết định số 28/2000/QĐ-BTC ngày 25/02/2000 và Quyết định số 153/2000/QĐ-BTC của Bộ Tài chính phát hành trái phiếu kho bạc kỳ hạn 2 năm.
  • Quyết định số 21/2001/QĐ-BTC ngày 28/03/2001 và Quyết định số 85/2001/QĐ-BTC ngày 16/09/2001 của Bộ Tài chính phát hành trái phiếu kho bạc kỳ hạn 2 năm.
  • Quyết định số 03/2002/QĐ-BTC ngày 15/01/2002, Quyết định số 42/2002/QĐ-BTC ngày 08/04/2002 và Quyết định số 83/2002/QĐ-BTC ngày 27/09/2002 của Bộ Tài chính phát hành các đợt trái phiếu kỳ hạn 2 năm.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp, phương pháp so sánh đối chiếu số liệu theo chuỗi thời gian (1996 - 2002) và phân loại dữ liệu theo không gian hành chính (Văn phòng KBNN tỉnh đối chiếu với KBNN các huyện). Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được tổng hợp từ các báo cáo nghiệp vụ tài vụ, thống kê kế toán phát hành và thanh toán của KBNN Hà Tây, báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tây năm 2001 - 2002 và các số liệu dự báo của Viện Nghiên cứu Chiến lược phát triển.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của công tác huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ

Chương này trình bày toàn diện bức tranh nhu cầu và khả năng huy động vốn của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa:

  • Nhu cầu vốn và cơ cấu nguồn lực: Trong tổng nhu cầu 58 tỷ USD giai đoạn 2001 - 2005, nguồn vốn trong nước dự kiến huy động: từ NSNN dành 10 - 15% vốn cho đầu tư phát triển (chi đầu tư phát triển khoảng 10% GDP, tương đương 26% tổng chi ngân sách); khấu hao cơ bản và lợi nhuận để lại của doanh nghiệp đóng góp 15 - 16 tỷ USD (chiếm 28% tổng cơ cấu vốn trong nước); các tổ chức tài chính đóng góp 3 - 4 tỷ USD; và khu vực hộ gia đình đóng góp 2 - 3 tỷ USD (ước tính từ 2 triệu hộ gia đình có tích lũy trung bình 1.500 USD/năm trên tổng số hơn 10 triệu hộ trong cả nước). Nguồn vốn nước ngoài tập trung thu hút FDI (tính từ 29/12/1987 đến 31/12/1999 cả nước có 3.398 dự án cấp phép với tổng vốn đăng ký 42 tỷ USD, trong đó còn hoạt động 2.895 dự án với 36.566 triệu USD), nguồn ODA cam kết qua các thời kỳ (như hội nghị Paris 1993 - 1994 cam kết 3,8 tỷ USD; vay IMF 230 triệu USD, WB và ADB 740 triệu USD) và phát hành trái phiếu quốc tế.
  • Bản chất và đặc trưng của tín dụng Nhà nước: So với tín dụng thương mại (giữa các doanh nghiệp) và tín dụng ngân hàng (giữa ngân hàng với doanh nghiệp/dân cư), tín dụng Nhà nước có chủ thể đi vay là Nhà nước, phạm vi rộng, đối tượng huy động bao gồm cả tiền tệ và hàng hóa, thời hạn đa dạng (ngắn, trung và dài hạn), và tính chất huy động vừa tự nguyện vừa có tính cưỡng chế khi cần thiết.
  • Ba vai trò cốt lõi của việc phát hành trái phiếu Chính phủ:
    1. Bù đắp thiếu hụt NSNN: Giải quyết bội chi ngân sách một cách lành mạnh, hạn chế tối đa việc phát hành tiền gây áp lực lạm phát.
    2. Tạo nguồn vốn đầu tư phát triển: Tập trung nguồn lực tài chính nhàn rỗi trong xã hội để xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội huyết mạch, then chốt.
    3. Thúc đẩy phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khoán: Trái phiếu Chính phủ giữ vai trò là "hàng hóa" chủ lực ban đầu, tạo nền tảng cho thị trường chứng khoán hình thành và hoạt động, đồng thời là công cụ đầu tiên phục vụ nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước.

Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ ở KBNN Hà Tây

Chương 2 phản ánh chi tiết điều kiện thực tiễn và kết quả huy động vốn tại tỉnh Hà Tây:

  • Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tây: Tỉnh thuộc vùng châu thổ sông Hồng, diện tích gồm vùng đồi núi phía Tây 704 km² và vùng đồng bằng phía Đông 1.444 km². Dân số theo điều tra tháng 4/2001 đứng thứ 5 toàn quốc với mật độ 1.111 người/km² (dân tộc Kinh chiếm 99%). Năm 2002, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 7,46%, GDP bình quân đầu người đạt 3 triệu đồng; sản lượng lương thực quy thóc đạt 1 triệu tấn; giá trị công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng 12%; giá trị xuất khẩu đạt 50 triệu USD; tổng thu NSNN trên địa bàn đạt 487 tỷ đồng và tổng chi ngân sách địa phương là 548 tỷ đồng; tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 862 tỷ đồng (tiền gửi tiết kiệm chiếm 62,87%, phát hành trái phiếu chiếm 27%). Tỷ lệ hộ nghèo còn 8,5%.
  • Cơ cấu tổ chức KBNN Hà Tây: Thành lập tháng 8/1991 sau khi tách ra từ KBNN Hà Sơn Bình, KBNN Hà Tây quản lý mạng lưới gồm 13 KBNN huyện. Tổng số cán bộ công nhân viên là 321 người, trong đó 175 cán bộ có trình độ đại học (đạt tỷ lệ 56%).
  • Sáu nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn: Nhân tố kinh tế địa phương; Nhân tố thu nhập dân cư; Nhân tố lãi suất; Nhân tố lạm phát; Nhân tố thông tin tuyên truyền tiếp thị; và Nhân tố tổ chức mạng lưới phát hành.
  • Thực trạng phát hành và thanh toán qua các năm (1996 - 2002):
Năm Kỳ hạn & Loại công cụ Lãi suất (%/năm) Văn phòng tỉnh (triệu đồng) KBNN các huyện (triệu đồng) Tổng huy động (triệu đồng) Tổng thanh toán gốc và lãi (triệu đồng)
1996 Trái phiếu 2 năm 12,0% 35.552 5.806 44.358 Thanh toán gốc 1 năm (LS 21%): 35.544; Lãi 1 năm: 7.551; Rút trước hạn 2 năm: 4.120
1997 Trái phiếu 2 năm 13,0% 50.558 10.150 60.708 Rút trước hạn 2 năm: 4.184 (đều hưởng lãi trên 12 tháng)
1998 Trái phiếu 2 năm 14,0% 61.900 8.200 70.100 Thanh toán: 42.300; Rút trước hạn: 14.364
1999 - TP kho bạc 2 năm
- Công trái 5 năm
- 13,0%
- 10,0%
- 69.374
- 10.800
- 28.076
- 4.500
112.750
(TP: 97.450;
Công trái: 15.300)
Thanh toán gốc TP 2 năm: 60.230; Thanh toán lãi TP 2 năm: 14.455
2000 - Đợt 1 (QĐ 28)
- Đợt 2 (QĐ 153)
- 7,0%
- 6,4%
- 58.300
- 39.700
- 21.700
- 10.600
130.300
(Đợt 1: 80.000;
Đợt 2: 50.300)
Thanh toán gốc: 68.900; Thanh toán lãi: 16.536
2001 - Đợt 1 (QĐ 21)
- Đợt 2 (QĐ 85)
- 6,8%
- 7,0%
- 65.300
- 39.600
- 26.400
- 5.800
137.100
(Đợt 1: 91.700;
Đợt 2: 45.400)
Thanh toán gốc: 78.787; Thanh toán lãi: 17.589
2002 - Đợt 1 (QĐ 03)
- Đợt 2 (QĐ 42)
- Đợt 3 (QĐ 83)
- 7,1%
- 7,4%
- 7,8%
- 41.000
- 53.000
- 25.300
- 11.000
- 17.000
- 8.700
156.000
(Đợt 1: 52.000;
Đợt 2: 70.000;
Đợt 3: 34.000)
Thanh toán gốc: 103.700; Thanh toán lãi: 26.962
  • Đánh giá tổng quát:
    • Thành tựu: Giai đoạn 1996 - 2002 huy động được hơn 700 tỷ đồng (Văn phòng tỉnh đạt trên 550 tỷ đồng). Trước đó giai đoạn 1992 - 1994 đã huy động được 150 tỷ đồng tín phiếu KBNN (riêng tín phiếu 6 tháng lãi suất 1,9%/tháng đạt hơn 85 tỷ đồng) và 2,4 tỷ đồng tín phiếu đường dây 500kV (1992 - 1993).
    • Hạn chế: Cơ chế chính sách thay đổi liên tục gây lúng túng; chính sách lãi suất chưa linh hoạt so với lãi suất tiền gửi của các Ngân hàng thương mại, dẫn đến hiện tượng chuyển dịch dòng vốn và rút vốn trước hạn chịu phạt lãi (tiêu biểu tháng 12/1996 Văn phòng tỉnh phải thanh toán trước hạn hơn 4.014 triệu đồng); các công cụ chủ yếu vẫn là trái phiếu ghi danh hạn chế tính thanh khoản.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ ở KBNN Hà Tây

Căn cứ vào danh mục kết cấu được giới thiệu ở Lời nói đầu và các giải pháp nền tảng trình bày tại mục 1.1.3 trong văn bản, các nhóm giải pháp then chốt được định hình gồm:

  • Đa dạng hóa công cụ và kỳ hạn nợ: Chuyển dịch mạnh mẽ từ các công cụ vay ngắn hạn sang phát hành trái phiếu trung và dài hạn nhằm tái cơ cấu nợ bền vững; phát hành đa dạng các loại trái phiếu vô danh tự do chuyển nhượng, trái phiếu công trình có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu để thu hút vốn từ các tổ chức kinh tế và tầng lớp dân cư.
  • Cải tiến phương thức phát hành và cơ chế xác định lãi suất: Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước tổ chức đấu thầu trái phiếu định kỳ (về lãi suất, khối lượng và kỳ hạn); xác định mức lãi suất thực dương kết hợp dự báo chỉ số trượt giá, bảo đảm cân bằng lợi ích giữa người vay nợ và chủ sở hữu vốn; kết hợp biên độ khuyến khích 0,3% - 0,5% so với lãi suất tiết kiệm ngân hàng.
  • Đẩy mạnh công tác tiếp thị và mạng lưới thanh toán: Hoàn thiện quy trình thanh toán một cửa, cho phép mua tại một điểm và thanh toán linh hoạt tại bất kỳ đơn vị KBNN nào trong toàn tỉnh; mở rộng tuyên truyền, phổ biến kiến thức tài chính đến các vùng sâu, vùng xa thuộc các huyện nhằm khai thác nguồn lực nhàn rỗi ngoài khu vực trung tâm thị xã.

Kết quả và đóng góp

Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ và chi tiết về kết quả huy động vốn nhà nước tại một địa phương cụ thể trong thời kỳ chuyển đổi:

  • Các kết quả định lượng cụ thể:
    • Xác lập dữ liệu tăng trưởng liên tục của nguồn vốn huy động qua KBNN Hà Tây: Năm 1996 đạt 44.358 triệu đồng; năm 1997 đạt 60.708 triệu đồng (tăng 19.350 triệu đồng, gấp 1,46 lần năm 1996); năm 1998 đạt 70.100 triệu đồng (bằng 115% năm 1997); năm 1999 bứt phá đạt 112.750 triệu đồng (nhờ bổ sung 15.300 triệu đồng từ công trái xây dựng tổ quốc); năm 2000 đạt 130.300 triệu đồng (tăng 17.550 triệu đồng, bằng 1,15 lần năm 1999); năm 2001 đạt 137.100 triệu đồng; và năm 2002 đạt mốc kỷ lục 156.000 triệu đồng.
    • Phản ánh rõ nét sự mất cân đối về địa bàn: Nguồn vốn huy động tập trung chủ yếu tại Văn phòng KBNN tỉnh (đạt trên 550 tỷ đồng trên tổng số hơn 700 tỷ đồng giai đoạn 1996 - 2002), trong khi 13 KBNN huyện đóng góp tỷ trọng khiêm tốn do địa bàn thuần nông và tỷ lệ đói nghèo còn chiếm 8,5%.
    • Ghi nhận chi tiết khối lượng giải quyết thanh toán nợ gốc và lãi đến hạn qua các năm, điển hình năm 2002 toàn tỉnh thanh toán 103.700 triệu đồng tiền gốc và 26.962 triệu đồng tiền lãi.
  • Đóng góp thực tiễn của tác giả:
    • Khóa luận làm sáng tỏ sự tương tác và cạnh tranh trực tiếp giữa công cụ nợ của Kho bạc với các kênh huy động vốn của hệ thống NHTM trên địa bàn.
    • Phân tích hiện tượng người dân sẵn sàng chịu mất quyền lợi lãi suất để rút vốn trước hạn khi có sự chênh lệch lãi suất thị trường, từ đó chứng minh tính cấp thiết của cơ chế điều hành lãi suất linh hoạt thay vì áp đặt hành chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Không gian khảo sát giới hạn tại một địa phương hành chính (tỉnh Hà Tây cũ), dữ liệu chịu ảnh hưởng bởi đặc thù kinh tế vùng ven đô thị và thuần nông nghiệp.
    • Dữ liệu nghiên cứu phản ánh bối cảnh lịch sử giai đoạn 1996 - 2002, khi các công cụ trái phiếu Chính phủ chủ yếu phát hành thủ công bằng chứng chỉ ghi danh hoặc vô danh, chưa liên thông hoàn toàn với thị trường giao dịch tập trung hiện đại.
    • Văn bản trích đoạn cung cấp không bao gồm nội dung chi tiết của Chương 3 mà chỉ có khung giải pháp định hướng tại Lời nói đầu và Chương 1.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phân tích cơ chế đấu thầu trái phiếu Chính phủ qua Sở Giao dịch Chứng khoán và mối quan hệ liên thông với thị trường tiền tệ.
    • Đánh giá tác động của công nghệ thanh toán điện tử và hệ thống thông tin quản lý ngân sách - kho bạc (TABMIS) đối với chi phí và hiệu quả phát hành công cụ nợ công.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và nghiệp vụ đối với:

  • Sinh viên, học viên cao học các chuyên ngành Tài chính công, Quản lý ngân sách nhà nước, Ngân hàng và Thị trường chứng khoán cần tìm hiểu dữ liệu lịch sử về quá trình hình thành thị trường trái phiếu Chính phủ tại Việt Nam.
  • Cán bộ quản lý tại hệ thống Kho bạc Nhà nước và các cơ quan tài chính địa phương trong việc nghiên cứu các giải pháp mở rộng cơ sở nhà đầu tư cá nhân và xử lý cạnh tranh lãi suất huy động vốn.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong tài liệu là hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết kết quả phát hành, cơ cấu lãi suất và khối lượng thanh toán gốc, lãi theo từng đợt của Văn phòng KBNN tỉnh và các KBNN huyện giai đoạn 1996 - 2002.

Câu hỏi thường gặp

1. Tổng số vốn KBNN Hà Tây huy động được thông qua trái phiếu Chính phủ trong giai đoạn 1996 - 2002 là bao nhiêu?

Trong 7 năm (1996 - 2002), KBNN Hà Tây đã huy động được hơn 700 tỷ đồng cho NSNN, trong đó riêng Văn phòng KBNN tỉnh huy động được trên 550 tỷ đồng, phần còn lại do 13 KBNN huyện thực hiện.

2. Kết quả phát hành Công trái xây dựng tổ quốc kỳ hạn 5 năm tại Hà Tây năm 1999 đạt bao nhiêu?

Thực hiện Nghị định số 34/1999/NĐ-CP và Thông tư số 56/1999/TT-BTC, từ ngày 19/05/1999 đến 15/07/1999, KBNN Hà Tây phát hành công trái kỳ hạn 5 năm, lãi suất 10%/năm và huy động được 15.300 triệu đồng (Văn phòng tỉnh đạt 10.800 triệu đồng, các huyện đạt 4.500 triệu đồng).

3. Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng người dân rút vốn thanh toán trái phiếu trước hạn không nhận lãi trong năm 1996?

Hiện tượng này phát sinh do lãi suất tiền gửi của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn cao hơn lãi suất trái phiếu kho bạc (12%/năm) và có hình thức trả lãi trước linh hoạt, khiến người dân chấp nhận rút gốc trước hạn không nhận lãi tại kho bạc để chuyển sang gửi tiết kiệm ngân hàng (tháng 12/1996 Văn phòng tỉnh phải thanh toán trước hạn 4.014 triệu đồng).

4. Quy mô nhân sự và kết quả thu chi ngân sách của KBNN Hà Tây năm 2002 được ghi nhận như thế nào?

Năm 2002, KBNN Hà Tây có bộ máy gồm 321 cán bộ (175 người có trình độ đại học, chiếm 56%), thực hiện quản lý tổng thu NSNN trên địa bàn đạt 487 tỷ đồng, tổng chi ngân sách đạt 548 tỷ đồng và tổng vốn huy động qua trái phiếu trong năm đạt 156 tỷ đồng.

5. Mục tiêu huy động vốn toàn quốc giai đoạn 2001 - 2005 được văn bản nêu ra ra sao?

Văn bản nêu rõ mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 7,2%/năm để đưa GDP bình quân đầu người lên 600 USD vào năm 2005. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển tương ứng là 58 tỷ USD (vốn trong nước chiếm 60%, vốn nước ngoài chiếm 40%), trong đó chỉ tiêu phát hành trái phiếu Chính phủ phấn đấu đạt tối thiểu 5% GDP hàng năm (khoảng 15.000 tỷ đồng/năm).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã phản ánh toàn diện thực trạng công tác huy động vốn qua công cụ trái phiếu Chính phủ tại KBNN Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2002 với tổng giá trị đạt trên 700 tỷ đồng. Nghiên cứu chỉ rõ đóng góp trọng yếu của nguồn vốn vay nợ dân cư trong việc xử lý bội chi ngân sách địa phương, kiềm chế lạm phát và kiến thiết hạ tầng kinh tế. Đồng thời, các số liệu thực chứng đã làm nổi bật những bất cập trong cơ chế điều hành lãi suất và sự phân hóa giữa các địa bàn, tạo lập cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc hoạch định chính sách quản lý nợ công cấp cơ sở.