CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA VỐN Đ ố i VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU T ư CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM 1.1 VAI TRÒ CỦA VỐN Đối VỚI s ự PHÁT TRIEN của các doa n h n g h iệ p TRONG NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM 1.1 Vốn sản xuất kinh doanh và vốn đầu tu Vốn sản xuất kinh doanỉv. Doanh nghiệp muốn hoạt động sản xuất kinh doanh phải bắt đầu với một lượng vốn nhất định. Trong kinh doanh, vốn được biểu hiện dưới hình thức các tài sản mà doanh nghiệp nắm giữ, hay nói cách khác, vốn là hình thái giá trị của toàn bộ tư liệu sản xuất, hàng hoá, tiền bạc đang được huy động và sử dụng cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn hình thành của vốn gọi là nguồn vốn.
Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp thể hiện thực trạng tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Trên bảng cân đối kế toán, vốn được thể hiên ở bên tài sản có bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động, nguồn vốn được thể hiện ở bên tài sản nợ và vốn của chủ bao gồm vốn của chủ, nợ phải trả trung và dài hạn, nợ phải trả ngắn hạn. Như vậy, doanh nghiệp muốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh phải mở rộng được nguồn vốn, hay còn gọi là nguồn tài trợ. Quy mô tài sản và kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng nguồn vốn của chính doanh nghiệp.
Nguồn vốn của doanh nghiệp xét theo sở hữu có 2 loại, nguồn từ bên ngoài (vay nợ các loại) và vốn của chủ sở hữu. Vốn vay từ bên ngoài được phân loại thành nguồn ngắn hạn (thời hạn dưới 1 năm) và nguồn dài hạn (thời hạn hơn 1 năm). Vốn đầu tư: theo nghĩa rộng là khoản tiền tích luỹ của xã hội và của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là số tiền tiết kiệm của dân và số tiền có thể huy động được từ các nguồn khác như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ. được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản suất xã hội nhằm tái sản xuất các tài sản 4 cố định bao gồm duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có và đổi mới bổ xung các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các nsành hoặc các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ.
Dưới giác độ doanh nghiệp, vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn vay dài hạn từ bên ngoài và vốn của chủ sở hữu. Đây là nguồn doanh nghiệp có thể sử dụng đầu tư dài hạn. Vốn nói chung không phải chỉ biểu hiện bằng tiền mặt mà còn được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau và có thể bao ơồm các yếu tố kỹ thuật công nghệ, các nhãn hiệu thương mại. Đặc biệt là đối với ngành công nghiệp dầu khí thì kỹ thuật công nơhệ hiện đại tiên tiến đóng một vai trò quan trọng và không thể thiếu.2 Vai trò của vốn đối với sự phát triển của các doanh nghiệp trong ngành Dầu khí Việt Nam Trong những năm 1985 trở lại đây, ngành dầu khí Việt Nam đang phát triển với tốc độ nhanh trên tất cả các lĩnh vực từ các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác đến các hoạt động vận chuyển, tàng trữ, dịch vụ, chế biến và phân phối sản phẩm.
Thu nhập từ ngành dầu khí hiện nay chiếm gần 1/3 tổng giá trị sản lượng của quốc gia, cụ thể, năm 1997, thu nhập từ dầu khí là 1,5 tỷ USD. Hiện nay, Việt Nam đang xếp thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á về sản lượng sản xuất dầu thô. Cùng với các ngành công nghiệp khác, ngành đầu khí Việt Nam đã góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ và vững chắc của đất nước trong những năm qua. Mặc dù vậy, ngành vẫn được coi là một trong các ngành công nghiệp mới, cần đầu tư phát triển để thực sự trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, có đủ năng lực cạnh tranh để có thể theo kịp sự phát triển chung của công nghiệp dầu khí trên thế giới.
Đặc biệt từ năm 1997, Việt Nam đã được kết nạp là một thành viên của Hiệp hội Dầu khí Thế giới. Nói đến dầu khí là người ta nói đến các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, bởi vì bất cứ một hoạt động nào của ngành dầu khí cũng đều cần những công nghệ kỹ thuật tiên tiến. Ví dụ như việc khoan thăm dò để tìm kiếm mỏ, xác định trữ lượng, xâv dựng những dàn khoan khai thác dầu khí từ các mỏ thường nằm sâu 5 dưới đáv biển hàng trăm mét cần những thiết bị rất hiện đại, hay việc xây dựng nhữnơ đường ống dẫn dầu, khí từ các mỏ về đất liền, xây dựng các công trình chê biến ra các loai sản phàm khác nhau phuc vụ cho san xuat va ticu dung. Tat cả các nhiệm vụ đó chỉ có thể được thực hiện bởi những công nghệ cao, mang tính chuyên ngành riêng biệt.
Có thể nói công nghệ tiên tiến là yếu tố quyết định sự tổn tại và phát triển của cônơ nơhiêp dầu khí. Công nghê hiên đai va ticn ticn la chia khoa mơ cưa tiến tới sự phát triển vượt bậc của ngành, không có công nghệ thì ngành không thể thực hiện được bất cứ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Do đó, muốn có cônơ nghệ tiên tiến, hiện đại ngành cần phải trang bị các phương tiện, thiết bị hiện đại đổng thời phải có đủ cán bộ có khả năng và trình độ để sử dụng các phương tiện, thiết bị tiên tiến đó. Muốn đáp ứng được điều kiện trên, trước hết, ngành dầu khí cần phải có một nguồn vốn lớn để đầu tư nhập thiết bị, công nghệ từ nước ngoài.
Lấy ví dụ chỉ một dự án ở mỏ Bạch Hổ, muốn lấy được khí để cung cấp cho các nhà máy ở Bà Rịa Thủ Đức và nhà máy sản xuất khí hoá lỏng (LPG) thì phải đầu tư vào hànCTlo at công trình bao cồm giàn nén khí ngoài khơi kết họp ca việc khai thac dầu và vận chuyển khí ở tại mỏ, hệ thống đường ống dẫn khí dài 108 km từ nơoài khơi vào đất liền, hệ thống đường ống khí trên đất liền đến Thủ Đức, nhà máy LPG tại Dinh Cô và hệ thống kho cảng xuất nhập. Chi phí đầu tư để xây dưna tổnơ thể cho toàn bô dư án này nhăm khai thac được 1,5 ti m khi/nam tronơ tươm* lai, với tổng đầu tư dự kiến lên đến gần 400 triệu đôla Mỹ. Trong tổnơ thể hoat đông của ngành thì dự án sử dụng khí ở mỏ Bạch Hổ chỉ là một dự án vừa so với các dự án khác như các dự án xây dựng nhà máy lọc dầu (1,5 tỷ đôla Mỹ), dự án phát triển mỏ Lan Đỏ, Lan Tây, đường ống dẫn khí phía tây nam. Chính vì vậy, nguồn vốn cần thiết cho việc thực hiện các dự án đầu tư của ngành là rất lớn và không thể thiếu.
Vốn góp phần giải quyết những nhu cầu bức xúc cho việc xây dựng nền cônơ n ơhiệp Dầu khí Việt Nam phát triển một cách toàn diện, nhanh chóng và có hiệu quả. Không có vốn lớn, ngành không thể nhập được trang thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ cho các công việc tìm kiêm, thăm dò ngoài khơi cũng 6 như khai thác các mỏ đã được phát hiện hay chế biến các sản phẩm dầu khí đã được khai thác phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng. Nguồn vốn lớn giúp cho ngành có thể lựa chọn được những phương án đầu tư tối ưu, có tính cạnh tranh hiệu quả tạo động lực cho ngành phát triển. Đầu tư để xâv dựng thêm các công trình, nhà máy, các cơ sở sản xuất và kinh doanh, mua sắm thêm thiết bị máy móc.làm tăng khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của ngành thúc đẩy sự tăng trưởng của toàn ngành Dầu khí.2 ĐẦU TƯ V Ố N T H E O D ự Á N , M Ộ T H ÌN H T H Ứ C Đ A U T Ư QUAN TRỌ N G CỦA N G À N H D Ầ U K H Í V IỆ T N A M T R O N G N E N k in h t ế t h ị t r ư ờ n g 1.1 Khái niệm v ề dự án đầu tư Đầu tư: Hoạt động đầu tư là một hoạt độn 2 mang tính tất yếu khách quan của các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
Đứng trên những giác độ khác nhau thì có nhữns khái niệm khác nhau về đầu tư. Đứns trên góc độ lợi nhuận để xem xét thì đầu tư là đem một khoản tiền nhất định đã tích luỹ được sử dụns vào một hoạt độn2 sản xuất kinh doanh nhất định nhằm đem lại một khoản tiền có giá trị lớn hơn. Hay nói cách khác đầu tư là sử dụns tiền vào mục đích sinh lợi. Tính sinh lợi là đặc trưng hàng đầu của đầu tư.
Quá trình sử dụng vốn đầu tư về bản chất chính là quá trình thực hiện chuyển hoá vốn bằng tiền (vốn đầu tư) thành vốn hiện vật để tạo nên những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt. Quá trình này còn được gọi là hoạt động đầu tư hay đầu tư vốn. Như vậy, hoạt độn2 đầu tư là một lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm duy trì tiềm lực sẵn có hoặc tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt đời sống. Dự án đầu tư: có thể xem xét dự án đầu tư dưới nhiều góc độ và do vậy cũng có nhiều quan điểm khác nhau về dự án đầu tư.
Xét theo nghĩa rộng, dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo nhữn2 đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải 7 tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhất định. Nói một cách chung nhất, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau, được kế hoạch hoá nhằm đạt cầc mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. * Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư được thể hiện trong một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.