CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. Khái niệm cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ 1. Cơ sở hạ tầng Có nhiều quan niệm khác nhau về cơ sở hạ tầng, có quan điểm cho rằng: "cơ sở hạ tầng là tổng thể các ngành kinh tế, các ngành công nghệ dịch vụ” [13].
Có quan điểm cho rằng: “cơ sở hạ tầng bao gồm những công trình công cộng phục vụ quá trình sản xuất và sinh hoạt của mỗi cá nhân và các cộng đồng xã hội” [22]. Có quan niệm khác lại cho rằng: “cơ sở hạ tầng là hệ thống các công trình làm nền tảng cung cấp những yếu tố cần thiết cho phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống” [06]. Từ các quan điểm khác nhau về CSHT nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét sau: Thứ nhất, xét trên phương diện hình thái, CSHT được biểu hiện là những tài sản hữu hình như hệ thống đường xá, cầu cống, bến cảng, hệ thống thuỷ lợi, các công trình bệnh viện, trường học, bưu chính viễn thông, lực lượng lao động có tri thức. Dựa trên cơ sở đó, các hoạt động kinh tế - văn hoá - xã hội được duy trì và phát triển.
Thứ hai, xét trên góc độ kinh tế hàng hoá thì dịch vụ CSHT được coi là một loại hàng hoá công cộng. Loại hàng hoá này phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội Thứ ba, xét trên phương diện đầu tư, CSHT chính là kết quả, sản phẩm của quá trình đầu tư được tích luỹ, gom góp qua nhiều thế hệ. Nó là một bộ phận giá trị tiết kiệm quốc gia, được đầu tư đáp ứng yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của đất nước. Từ sự phân tích trên có thể đi đến nhận định tổng quát: CSHT được hiểu là toàn bộ những điều kiện vật chất, kỹ thuật, cơ chế hoạt động, thiết chế xã hội được trang bị các yếu tố vật chất và môi trường phục vụ cho hoạt động sản xuất và đời 6 sống con người.
CSHT vừa có yếu tố vật chất, vừa có yếu tố phi vật chất và nó chính là sản phẩm của quá trình đầu tư làm nền tảng cho sự phát triển toàn diện của một xã hội. Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ là một bộ phận của cơ sở hạ tầng KT - XH, nó cũng chứa đựng các nội dung, tính chất và đặc điểm của cơ sở hạ tầng nói chung và là điều kiện vật chất phục vụ cho phát triển KT - XH của một quốc gia. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về CSHTGTĐB, trong phạm vi và cách tiếp cận của đề tài có thể hiểu: Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ là hệ thống những công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ được xây dựng, nhằm đảm bảo cho việc di chuyển, đón trả khách, xếp dỡ hàng hóa và vận chuyển hàng hóa, dịch vụ của các loại phương tiện tham gia giao thông diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi và an toàn. Luật Giao thông đường bộ quy định: CSHTGTĐB bao gồm công trình đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ.
Trong đó, công trình đường bộ gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ; đèn tín hiệu; biển báo hiệu; vạch kẻ đường; cọc tiêu; rào chắn; đảo giao thông; dải phân cách; cột cây số; tường, kè; hệ thống thoát nước; trạm kiểm tra tải trọng xe; trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác [18]. Về mạng lưới giao thông đường bộ hiện nay được chia thành 06 hệ thống là: Quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án tập trung chủ yếu vào đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị. Quốc lộ và đường chuyên dùng chỉ nghiên cứu trong mối quan hệ kết nối đường bộ thành mạng lưới giao thông phù hợp.
Riêng đường quốc lộ trong phân cấp quản lý khi có dự án đầu tư chính quyền cấp tỉnh chỉ tham gia khâu giải phóng mặt bằng. Thực tế, trong các loại CSHT giao thông, đường bộ là loại công trình bổ trợ cho tất cả các loại CSHT giao thông khác như đường sắt, hàng không, hàng hải và đường sông. Mạng lưới đường bộ kết nối các cảng biển, cảng hàng không, cảng, bến đường sông, nhà ga đường sắt tạo thành một hệ thống giao thông liên hoàn, 7 thông suốt. Ở địa bàn Huyện Na Hang hệ thống đường bộ kết nối với hệ thống bến sông và nhà ga đường sắt.
Còn đối với cảng biển, cảng hàng không kết nối qua hệ thống đường quốc lộ, đường sông. Trong hệ thống CSHT kinh tế - xã hội, CSHTGTĐB là bộ phận cấu thành cơ bản và quan trọng nhất. CSHTGTĐB có mặt khắp mọi nơi và có mối quan hệ gắn kết, song hành với các loại CSHT khác như hệ thống cấp điện, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc. CSHTGTĐB có đặc trưng là tính thống nhất và đồng bộ, giữa các bộ phận của CSHTGTĐB có sự kết nối, gắn kết hài hòa với nhau tạo thành một thể vững chắc, do đó phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống.
Ngoài ra, CSHTGTĐB còn có đặc trưng là thường có quy mô lớn, chủ yếu là ở ngoài trời và được xây dựng rải rác trên phạm vi địa bàn rộng lớn, do đó chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên. Chính vì vậy, cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ rất đa dạng, gồm nhiều bộ phận khác nhau, mang cả 2 hình thái vật chất và hình thái phi vật chất. Đặc điểm và phân loại cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ 1. Đặc điểm của cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ là một bộ phận của cơ sở hạ tầng KT - XH.
Các nghiên cứu về CSHT GTĐB cho thấy hệ thống CSHT GTĐB thường có những đặc điểm cơ bản là: Thứ nhất, tính hệ thống: Thể hiện ở chỗ nó tác động lên hoạt động sản xuất xã hội trên quy mô cả nước hoặc trên những vùng lãnh thổ rộng lớn. Sự trục trặc về hạ tầng ở một khâu, mắt xích nào đó có thể gây ra ách tắc toàn bộ hệ thống sản xuất, ảnh hưởng đến nhiều tác nhân tham gia. Thứ hai, tính đồng bộ: Thể hiện các bộ phận cấu thành của hệ thống CSHT GTĐB phải có sự liên kết đồng bộ, cân đối trong tổng thể hợp lý. Sự thiếu đồng bộ có thể sẽ dẫn đến làm tê liệt cả hệ thống công trình hoặc làm cho công trình không phát huy được hết tác dụng.
Vì vậy việc đầu tư xây dựng CSHT GTĐB phải đảm bảo tính đồng bộ các bộ phận cấu thành của hệ thống CSHT GTĐB. Thứ ba, tính tiên phong, định hướng: Thể hiện muốn phát triển sản xuất và các hoạt động xã hội thì hệ thống hạ tầng phải được đi trước một bước, nghĩa là phải được xây dựng xong, hoàn chỉnh sau đó các hoạt động sản xuất và đời sống xã hội 8 mới có thể diễn ra. Trong khoảng thời gian dài hạ tầng thường tác động tới hướng phát triển các hoạt động sản xuất và mở đường cho các hoạt động kinh tế xã hội phát triển. Thứ tư, tính vùng: Thể hiện ở chỗ việc phát triển CSHT GTĐB phải tính đến và lệ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên (địa hình, các nguồn tài nguyên, tính chất sản xuất xã hội…), điều đó nghĩa là việc phát triển CSHT GTĐB phải tùy thuộc vào các điều kiện địa lý có sẵn, vào hướng phát triển kinh tế của từng vùng, khu vực… không thể có hệ thống CSHT GTĐB giống nhau trải khắp đất nước, hoặc hệ thống CSHT GTĐB đô thị rất khác hệ thống CSHT GTĐB nông thôn.
Thứ năm, tính công cộng: Nếu xét trên góc độ hàng hóa công cộng thì CSHT GTĐB thuộc loại hàng hóa công cộng không thuần túy. HHCC là hàng hóa có 2 thuộc tính cơ bản là không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ: Không có tính cạnh tranh nghĩa là khi có thêm một người cùng sử dụng HHCC sẽ không làm giảm lợi ích tiêu dùng của những người tiêu dùng hiện có. Có thể hiểu HHCC có thể đáp ứng được lợi ích của nhiều người không hạn chế số người sử dụng. Không có tính loại trừ được hiểu ngầm là về mặt kỹ thuật là không thể hoặc là chi phí rất tốn kém để ngăn ngừa những người khác cùng sử dụng loại hàng hóa này.
Có thể hiểu là người tiêu dùng không bị cản trở khi có nhu cầu về nó. HHCC nào mang đầy đủ 2 đặc tính trên thì là HHCC thuần túy. Vì HHCC thuần túy không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng nên với một lượng HHCC thuần túy nhất định, chi phí biên để phục vụ thêm một người sử dụng bằng 0. Tuy nhiên chi phí biên để sản xuất HHCC vẫn lớn hơn 0 vì để sản xuất thêm HHCC đòi hỏi tốn nguồn lực của xã hội.
HHCC chỉ có 1 trong 2 thuộc tính trên được gọi là HHCC không thuần túy. Có 2 loại HHCC không thuần túy là HHCC có thể tắc nghẽn và HHCC có thể loại trừ bằng giá. HHCC có thể tắc nghẽn là những hàng hóa mà khi có thêm nhiều người sử dụng thì có thể gây ra sự ùn tắc hay tắc nghẽn khiến lợi ích của những người tiêu dùng trước đó bị giảm sút. Chi phí để phục vụ cho những người tăng thêm sau một 9 giới hạn nhất định không còn bằng 0 nữa mà bắt đầu tăng lên.
Điểm giới hạn đó gọi là điểm tắc nghẽn, như đường giao thông, nếu có quá đông người sử dụng thì đường sẽ bị tắc nghẽn. HHCC có thể loại trừ bằng giá, hay gọi tắt là HHCC có thể loại trừ, là những HHCC mà lợi ích của chúng có thể định giá, như đường cao tốc, cầu. có thể đặt các trạm thu phí để hạn chế bớt số lượng người sử dụng nhằm tránh tắc nghẽn. Do đặc điểm CSHT GTĐB thuộc loại HHCC không thuần túy, thu hút được khu vực tư nhân tham gia đầu tư xây dựng và thu phí sử dụng để thu hồi VĐT.
Chính vì vậy, CSHT GTĐB có thể do Nhà nước hay tư nhân đầu tư xây dựng, cung cấp. Điều này đồng nghĩa với việc đa dạng hóa các nguồn VĐT để phát triển hệ thống CSHT GTĐB.