CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM KHOẢN MỤC TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN NAM VIỆT – CN HÀ NỘI (AASCN) THỰC HIỆN 1. Đặc điểm của khoản mục tiền lương và các khoản trích theo lương ảnh hưởng đến kiểm toán BCTC 1. Khái niệm và đặc điểm tiền lương và các khoản trích theo lương Lao động của con người cùng với đối tượng lao động và tư liệu lao động hợp thành ba yếu tố của quá trình sản xuất. Trong ba yếu tố đó thì lao động của con người là yếu tố có vai trò quan trọng nhất, vì không có lao động của con người thì tư liệu lao động và đối tượng lao động chỉ là những vật vô dụng.
Muốn cho quá trình sản xuất kinh doanh trong DN tiến hành thường xuyên liên tục thì một vấn đề thiết yếu là phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động mà con người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động. Mác từng nói: “Lao động sáng tạo ra giá trị hàng hóa nhưng bản thân nó không phải là hàng hóa và không có giá trị”. Cái mà người ta gọi là “giá trị lao động” thực tế là “giá trị sức lao động”. Trong nền kinh tế hàng hóa, thù lao lao động được biểu hiện bằng thước đo giá trị gọi là tiền lương.
Như vậy, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà DN phải trả cho nguời lao động căn cứ vào thời gian, khối lượng, chất lượng công việc mà họ đã đóng góp cho DN. Nhận thức rõ vai trò của tiền lương trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân, tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW khóa VIII đã khẳng định: “Tiền lương gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trả lương đúng cho người lao động chính là thực hiện đầu tư cho phát triển, đóng góp phần quan trọng làm lành mạnh, trong sạch đội ngũ cán bộ, đảm bảo giá trị thực của tiền lương và từng bước cải thiện theo sự phát triển kinh tế - xã hội”. Tiền lương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nó mang ý nghĩa về mặt kinh tế, đó là khoản chi phí sản xuất chiếm một tỷ trọng tương đối lớn, nhất là đối với cá đơn vị sản xuất và dịch vụ, DN cần quản lí tốt sao cho giảm chi phí tiền lương, hạ 3 giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả lao động.
Bên cạnh đó, đây còn là khoản doanh nghiệp trả cho nguời lao động, là nguồn thu nhập chính của người lao động, do vậy mà nó quyết định lũy tiến tới sự làm việc và cống hiến của người lao động đối với công việc. Như vậy tiền lương mang cả ý nghĩa về mặt kinh tế và mặt xã hội. Do vậy, các nhà quản lí luôn phải cân nhắc hai vấn đề: Thứ nhất, tiền lương phải đảm bảo nhu cầu của người lao động; Thứ hai, chi phí tiền lương phải phù hợp với chi phí sản xuất, đảm bảo đem lại lợi nhuận cho đơn vị. Theo Nghị định số 122/2015/NĐ-CP về lương tối thiểu vùng ban hành ngày 14/11/2015 có hiệu lực ngày 01/01/2016 là 2.
Sắp tới thay thế cho Nghị định số 122/2015/NĐ-CP là Nghị định số 153/2016/NĐ-CP ban hành ngày 14/11/2016 quy định mức lương tối thiểu vùng là 2.000 VNĐ có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 Bảng 1.1 Mức lương tối thiếu vùng Đơn vị tính: VNĐ Vùng NĐ 153/2016/NĐ-CP NĐ 122/2015/NĐ-CP Vùng I 3.000 Bên cạnh tiền lương còn có các khoản trích theo lương đó là: Bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh phí công đoàn (KPCĐ), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Các khoản trích theo lương được hiểu như sau: Quỹ bảo hiểm xã hội: Được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tiền lương cơ bản của người lao động thực tế phát sinh trong kỳ. Tỷ lệ trích hiện hành tổng là 26% (Trong đó: 18% được tính vào chi phí của doanh nghiệp, 8% được tính trừ vào lương của nhân viên). Quỹ BHXH là khoản đóng góp của NLĐ và người sử dụng lao động, dùng để trợ cấp cho họ trong trường hợp mất khả năng lao động, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất.
Quỹ BHXH do cơ quan bảo hiểm xã hội trực tiếp quản lý. Tại DN, hàng tháng doanh 4 nghiệp trực tiếp chi trả BHXH cho người lao động bị đau ốm, …trên cơ sở chứng từ hợp lý, hợp lệ như: phiếu nghỉ hưu BHXH và các chứng từ liên quan khác. Quỹ bảo hiểm y tế: một hình thức bảo hiểm theo đó người mua bảo hiểm sẽ được cơ quan bảo hiểm trả thay một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cũng như chi phí mua thuốc men khám chữa bệnh. BHYT tạo điều kiện cho bệnh nhân được khám và điều trị dù không có đủ tiền trang trải số chi phí khám chữa bệnh thực tế cho cơ quan y tế.
BHYTlà hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật Bảo hiểm Y tế. BHYT đươc tính theo tỷ lệ 4,5% trên lương cơ bản (Trong đó: người sử dụng lao động chịu 3% tính vào chi phí, người lao động chịu 1,5%). Qũy BHYT được sử dụng để trợ cấp cho lao động tham gia đóng góp quỹ trong hoạt động khám chữa bệnh. Kinh phí công đoàn: Kinh phí công đoàn dùng để chi tiêu cho hoạt động công đoàn ở đơn vị cấp trên và toàn bộ DN.
Theo quy định hiện hành, tại Thông tư liên tịch số 119/TTLT, ngày 08/12/2004 giữa Tổng LĐLĐ Việt Nam và Bộ Tài chính thì tỷ lệ trích nộp kinh phí công đoàn bằng 2% theo lương thực tế tại đơn vị (Trong đó đơn vị đóng góp toàn bộ, người lao động không phải đóng góp). Khi trích KPCĐ thì tùy vào từng DN mà toàn bộ khoản này được sử dụng tại đơn vị hoặc một nửa đơn vị phải nộp cho cấp trên, một nửa sử dụng để chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại đơn vị. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp: Mức đóng và trách nhiệm đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định: người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng, người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp, nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp và do ngân sách trung ương bảo đảm. Nguồn hình thành Quỹ BHTN bao gồm: Các khoản đóng và hỗ trợ kể trên, tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ và nguồn thu hợp pháp khác.
Quỹ BHTN được sử dụng để chi trả trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho 5 người lao động; hỗ trợ học nghề; hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp; chi phí quản lý bảo hiểm thất nghiệp thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội; đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng Quỹ. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương cơ bản thực tế của người lao động phát sinh trong kỳ. Trường hợp mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp cao hơn hai mươi tháng lương cơ sở (đối với NLĐ thuộc đối tượng thực hiên chế độ tiền lương do Nhà nước quy định) hoặc lương tối thiểu vùng (đối với NLĐ hưởng lương theo chế độ tiền lương do người SDLĐ quyết định) thì mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng hai mươi tháng lương cơ sở hoặc lương tối thiểu vùng tại thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được hạch toán độc lập.
Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện việc thu, chi, quản lý và sử dụng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Phương pháp tính lương Hình thức trả lương theo thời gian: Lương theo thời gian là việc tính trả lương cho nhân viên theo thời gian làm việc, có thể là theo tháng, theo ngày, theo giờ. Thực tế trong các DN vẫn tồn tại 2 các tính lương như sau: Hình thức 1: Lương tháng = Lương + Phụ cấp (nếu có) / ngày công chuẩn của tháng X số ngày làm việc thực tế (Ngày công chuẩn của tháng là ngày làm việc trong tháng, không bao gồm các ngày nghỉ ví dụ như công ty quy định được nghỉ chủ nhật) Hình thức 2: Lương tháng = Lương + Phụ cấp (nếu có) / 26 X ngày công thực tế làm việc (DN tự quy định 26 hay 24 ngày) Hình thức trả lương theo sản phẩm Hình thức trả lương theo sản phẩm là hình thức tính trả lương cho người lao động theo số lượng và chất lượng sản phẩm hoặc công việc đă hoàn thành. Đây là hình thức trả lương gắn chặt năng suất lao động với thù lao lao động, có tác dụng 6 khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động góp phần tăng sản phẩm.
Là hình thức trả lương/thưởng mà thu nhập người lao động phụ thuộc vào doanh số đạt được theo mục tiêu doanh số và chính sách lương/thưởng doanh số của công ty. Thường áp dụng cho nhân viên kinh doanh, nhân viên bán hàng. Hưởng lương theo doanh thu Kỳ hạn trả lương Người lao động hưởng lương giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thoả thuận, nhưng ít nhất 15 ngày phải được trả gộp một lần. Người lao động hưởng lương tháng được trả lương tháng một lần hoặc nửa tháng một lần.
Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng. Nguyên tắc trả lương Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn. Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương.