phần mở đầu, mục lục, danh mục các từ viết tắt và phần kết luận thì luận văn đƣợc phân thành 3 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Marketing Chƣơng 2: Phân tích thực trạng hoạt động Marketing tại Công Ty Cổ Phần Xăng Dầu Dầu Khí Vĩnh Long. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động Marketing tại Công Ty Cổ Phần Xăng Dầu Dầu Khí Vĩnh Long đến năm 2020. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING 1. Khái niệm về Marketing 1.
Định nghĩa Marketing Ngày nay có nhiều định nghĩa về marketing, tuỳ theo từng quan điểm, các định nghĩa có sự khác nhau nhƣng bản chất của chúng thì không thay đổi, có 3 khái niệm cần quan tâm sau: Khái niệm Marketing của Philip Kotler: “Marketing là hoạt động của con ngƣời hƣớng tới thoả mãn nhu cầu và ƣớc muốn của khách hàng thông qua quá trình trao đổi” (Philip Kotler,1997, trang 9). Định nghĩa này bao gồm cả quá trình trao đổi không kinh doanh nhƣ là một bộ phận của marketing. Hoạt động marketing diễn ra trong tất cả các lĩnh vực trao đổi nhằm hƣớng tới thoả mãn nhu cầu với các hoạt động cụ thể trong thực tiễn kinh doanh. Theo Viện nghiên cứu Marketing Anh: “Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện và biến sức mua của ngƣời tiêu dùng thành nhu cầu thực sự của một mặt hàng cụ thể, đến việc đƣa hàng hoá đến ngƣời tiêu dùng cuối cùng đảm bảo cho công ty thu hút đƣợc lợi nhuận dự kiến” (theo http://voer.
Khái niệm này liên quan đến bản chất của marketing là tìm kiếm và thoả mãn nhu cầu, khái niệm nhấn mạnh đến việc đƣa hàng hoá tới ngƣời tiêu dùng, các hoạt động trong quá trình kinh doanh nhằm thu hút lợi nhuận cho công ty. Tức là nó mang triết lý của marketing là phát hiện, thu hút, đáp ứng nhu cầu một cách tốt nhất trên sơ sở thu đƣợc lợi nhuận mục tiêu. Theo Hiệp hội Marketing Mỹ: “Marketing là quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mãi và phân phối sản phẩm, dịch vụ và ý tƣởng để tạo ra sự trao đổi nhằm thoả mãn các mục tiêu của cá nhân và tổ chức” (theo http://voer. Khái niệm này mang tính chất thực tế khi áp dụng vào thực tiễn kinh doanh.
Qua đây ta thấy nhiệm vụ của marketing là cung cấp cho khách hàng những hàng hoá và dịch vụ mà 5 họ cần. Các hoạt động của marketing nhƣ việc lập kế hoạch marketing, thực hiện chính sách phân phối và thực hiện các dịch vụ khách hàng,… nhằm mục đích đƣa ra thị trƣờng những sản phẩm phù hợp và đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng hơn hẳn đối thủ cạnh tranh thông qua các nỗ lực marketing của mình. Có thể thấy rỏ ý nghĩa Marketing thông qua các nội dung chính nhƣ sau: - Nghiên cứu, phát hiện, phân tích, đánh giá lựa chọn các chu cầu và mong muốn của khách hàng và các bên có liên quan. - Dùng các công cụ Marketing trong hỗn hợp Marketing để hỗ trợ trong các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng bằng các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp.
Vai trò của Marketing. Marketing thiết lập cầu nối giữa ngƣời mua và ngƣời bán, giúp ngƣời bán nắm bắt những nhu cầu đích thực của ngƣời mua và thỏa mãn một cách tối ƣu nhất. Từ đó, Marketing tham gia vào giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản của hoạt động kinh doanh, chẳng hạn nhƣ: - Xác định đƣợc loại sản phẩm mà công ty cần cung cấp ra thị trƣờng. - Tổ chức tốt quá trình cung ứng sản phẩm với sự tham gia đồng thời của ba yếu tố: cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ, đội ngũ nhân viên trực tiếp và khách hàng.
- Giải quyết hài hoà các mối quan hệ lợi ích giữa khách hàng, nhân viên và ban lãnh đạo. Giải quyết tốt các vấn đề trên không chỉ là động lực thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động của doanh nghiệp, mà còn là động lực thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động của doanh nghiệp, trở thành công cụ để duy trì và phát triển mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng. Bên cạnh đó, Marketing còn góp phần gắn kết hoạt động của doanh nghiệp với thị trƣờng. Tạo vị thế cạnh tranh trên thị trƣờng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Marketing, có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra những sản phẩm ở thị trƣờng mục tiêu.
Vì thế, Marketing cần phải: - Tạo đƣợc tính độc đáo của sản phẩm. 6 - Làm rõ tầm quan trọng của sự khác biệt đối với khách hàng. - Tạo khả năng duy trì lợi thế về sự khác biệt của doanh nghiệp. Thông qua việc chỉ rõ và duy trì lợi thế của sự khác biệt, Marketing giúp doanh nghiệp phát triển và ngày càng nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trƣờng.
Các nhà quản lý sẽ xây dựng một chƣơng trình hoạt động Marketing phù hợp bao gồm việc phân tích các cơ hội về Marketing, nghiên cứu và chọn lựa các thị trƣờng có mục tiêu, thiết kế các chiến lƣợc Marketing, hoạch định các chƣơng trình về Marketing, tổ chức thực thi và kiểm tra các cố gắng nỗ lực về Marketing dựa trên những mục tiêu đƣợc hoạch định. Chức năng của Marketing Dựa trên sự phân tích phạm vi của doanh nghiệp Marketing có các chức năng chính nhƣ sau: - Chức năng đối nội: tạo nên sự liên kết từ các bộ phận có liên quan hƣớng vào mục tiêu chung của doanh nghiệp để tạo ra các sản phẩm, các dịch vụ phù hợp với nhu cầu của khách hàng. - Chức năng đối ngoại: Tìm kiếm và phân khúc thị trƣờng, các chƣơng trình hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Nội dung chủ yếu của hoạt động Marketing 1.
Thị trƣờng 1. Nghiên cứu và phân khúc thị trƣờng Phân khúc thị trƣờng trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp đƣợc hiểu là chia thị trƣờng thành những đoạn khác nhau mà trong đó ứng với mỗi đoạn sẽ có một hoặc một tập hợp các sản phẩm dịch vụ nhất định cho một nhóm ngƣời hoặc một nhóm công ty nhất định. Ngƣời ta gọi các đoạn phân chia đó là phân khúc thị trƣờng. Và phân khúc thị trƣờng chính là quá trình phân chia ngƣời tiêu dùng thành nhóm trên cơ sở những điểm khác biệt nhƣ nhu cầu, về tính cách hay hành vi.
Mục tiêu của việc phân khúc thị trƣờng trong tiếp thị là chia thị trƣờng thành những thị trƣờng nhỏ hơn với khách hàng có nhu cầu giống nhau, dễ nhận biết, nắm bắt và đáp ứng hiệu quả hơn, giúp các doanh nghiệp tạo ra sản phẩm dịch 7 vụ đáp ứng nhu cầu cụ thể và tập trung các nguồn lực Marketing một cách hiệu quả. Theo đó, thị trƣờng mục tiêu sẽ đƣợc chia nhỏ dựa trên một số yêu cầu sau: - Tính đồng nhất: Các đối tƣợng khách hàng trong cùng một phân đoạn thị trƣờng có sự đồng nhất về nhu cầu và nhận định. - Tính riêng biệt: Các phân đoạn thị trƣờng khác nhau có những đặc điểm khác nhau. - Có thể nhận biết đƣợc: Các phân đoạn thị trƣờng phải đo lƣờng và nhận biết đƣợc.
- Có thể thâm nhập và hoạt động hiệu quả: Sau khi chọn đƣợc phân đoạn thị trƣờng thích hợp, nhà kinh doanh áp dụng các biện pháp Marketing và có thể thâm nhập, kinh doanh hiệu quả trong đoạn thị trƣờng đó. - Phân đoạn thị trƣờng phải đủ lớn để sinh lợi nhuận. Dựa trên một số yêu cầu về phân định thị trƣờng mục tiêu, những ngƣời làm Marketing thƣờng tiến hành phân khúc thị trƣờng theo các tiêu chí: Theo nhân khẩu học, nhóm nhu cầu, nhóm thu nhập, nhóm hành vi, vị trí địa lý, nhóm ngành nghề, nhóm khu vực kinh tế. - Phân khúc thị trƣờng thành những nhóm theo nhân khẩu học: tuổi, giới tính, thu nhập, nghề nghiệp, học vấn.
- Phân khúc thị trƣờng thành những nhóm theo nhu cầu: Nhấn mạnh phân đoạn thị trƣờng dựa trên tiêu thức nhu cầu của ngƣời tiêu dùng. Các nhà nghiên cứu Marketing còn kết hợp cả đặc điểm nhân khẩu học và tâm lý học khi tiến hành phân khúc thị trƣờng theo nhóm nhu cầu bởi nhờ đó họ xác định chính xác hơn thị trƣờng mục tiêu. - Phân khúc thị trƣờng theo các nhóm hành vi: Tiến hành phân chia thị trƣờng ngƣời tiêu dùng theo các nhóm đồng nhất về các đặc tính nhƣ: Lý do mua sản phẩm dịch vụ, lợi ích tìm kiếm, tính trung thành, số lƣợng và tỷ lệ sử dụng, cƣờng độ tiêu thụ. 8 - Phân đoạn theo địa lý: Chia thị trƣờng thành những nhóm có cùng vị trí địa lý.
Cách phân khúc này đƣợc sử dụng rộng rãi vì dễ thực hiện, dễ đánh giá nhu cầu của từng khúc và dễ sử dụng các phƣơng tiện quảng cáo. - Phân khúc theo nhóm ngành nghề: chia thị trƣờng thành những nhóm khách hàng có chung ngành nghề sản xuất kinh doanh có nhu cầu sản phẩm máy phát điện thành một nhóm. Ví dụ: nhƣ các công ty xây dựng và công ty địa ốc thành một nhóm; các công ty dầu khí thành một nhóm; các ngân hàng thành một nhóm; các công ty viễn thông thành một nhóm; … - Phân khúc theo khu vực kinh tế: chia thị trƣờng theo khu vực kinh tế, nhƣ khu vực đầu tƣ nƣớc ngoài FDI, khu vực đầu tƣ kinh tế của nhà nƣớc, và khu vực kinh tế ngoài nhà nƣớc. Lựa chọn thị trƣờng mục tiêu Để lựa chọn đƣợc thị trƣờng mục tiêu, các doanh nghiệp cần đánh giá các phân khúc thị trƣờng khác nhau qua đó chọn một hay một số khúc thị trƣờng mà doanh nghiệp mình có lợi thế cạnh tranh là thị trƣờng mục tiêu để quyết định phân phối nguồn lực Marketing tại những khúc thị trƣờng mục tiêu này.
Việc đánh giá dựa trên ba yếu tố: ếu tố thứ nhất: Đánh giá quy mô và mức tăng trƣởng của từng khúc thị trƣờng, khúc thị trƣờng nào có quy mô và mức tăng trƣởng “vừa sức”. ếu tố thứ hai: Đánh giá mức độ hấp dẫn về cơ cấu của khúc thị trƣờng: Một số khúc thị trƣờng có thể có quy mô và mức tăng trƣởng mong muốn nhƣng lại thiếu tiềm năng sinh lời lâu dài phụ thuộc vào: Các đối thủ cạnh tranh hiện tại, những kẻ xâm nhập tiềm ẩn, những sản phẩm thay thế, quyền thƣơng lƣợng của ngƣời mua và ngƣời cung ứng. ếu tố thứ ba: Đánh giá mục tiêu và nguồn lực của doanh nghiệp: Một số khúc thị trƣờng hấp dẫn có thể vẫn bị loại bỏ, bởi chúng không phù hợp với mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp.