đặt vấn đề chào mua trực tiếp với ban giám đốc và HĐQT của DN mục tiêu và nếu mọi việc diễn tiến tốt đẹp, họ sẽ đạt được mục đích thông qua quá trình thương lượng, thống nhất giữa hai bên. Mua lại có ý đồ thôn tính (hostile takeover): Diễn ra khi một DN bằng mọi cách mua lại DN khác cho dù DN mục tiêu có thích hoặc đồng tình hay không. Hành động thôn tính này thường được thực hiện thông qua việc âm thầm mua lại các cổ phiếu của hội đồng quản trị để cuối cùng đạt được tỷ lệ sở hữu đa số và nắm quyền kiểm soát DN. Điều này cũng không dễ thực hiện trừ khi cổ phần của DN mục tiêu được sở hữu rộng rãi và dễ mua lại (tính thanh khoản cao).
Mua lại với ý đồ thôn tính được coi là hành động “cướp DN” (corporate raid). Dựa trên phương pháp tiến hành tài trợ (bằng nợ hoặc vốn tự có) Mua DN bằng cách sử dụng đòn công nợ (Leveraged Buyouts – LBOs) diễn ra khi có một DN vay nợ (lên từ 90% đến 100% giá trị thương vụ) để đi mua một DN 15 mục tiêu. Cách thức phổ biến là DN mua lại sẽ sử dụng phương thức vay ứng trước (prepayable bank facilities), đồng thời phát hành trái phiếu ra công chúng hoặc cho một số cá nhân để vay tiền (loại trái phiếu này được xếp vào dạng trái phiếu có lãi suất cao và mang tính rủi ro cũng rất cao). Thông thường, DN đi mua sẽ sử dụng tài sản của mình để thế chấp và sử dụng dòng tiền tự do của DN mục tiêu như nguồn hoàn trả các khoản nợ.
Cuối cùng, DN đi mua bán DN mục tiêu cho DN khác dưới hình thức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (Initial Public Offering) hoặc trả lãi cho chính mình nếu tiếp tục tài trợ. Những người ủng hộ LBOs cho rằng hình thức này giúp các DN mục tiêu sử dụng các nguồn lực của mình có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, những người phản đối LBOs thì lại cho rằng hình thức này phá hủy giá trị (của DN mục tiêu) và đem đến những khó khăn kinh tế nghiêm trọng cho một quốc gia bằng cách gây ra sự đổ vỡ hàng loạt các DN trong nền kinh tế. Mua DN bằng cách sử dụng vốn chủ sở hữu ( Management Buyouts- MBOs)là trường hợp mua lại đặc biệt, xảy ra khi các giám đốc của một DN mua lại phần lớn cổ phiếu DN từ những người chủ thực sự để chuyển từ vị trí “làm công ăn lương” sang vị trí trực tiếp làm chủ DN.
Mục đích của việc mua lại này có thể là để gia tăng khả năng kiểm soát DN, củng cố lợi ích cá nhân trong niềm tin vào tương lai của DN. Đa số trường hợp sau khi thực hiện MBOs, ban quản trị sẽ biến DN cổ phần thành DN tư nhân. MBOs đóng vai trò quan trọng trong việc tái cấu trúc DN. Các cách phân loại khác Sáp nhập trong cùng thị trường (In-market merger): DN sáp nhập và DN mục tiêu hoạt động kinh doanh trên các thị trường địa lý giống nhau.
Việc xóa bỏ sự trùng lắp trong bộ máy tổ chức và hoạt động chức năng giữa hai DN cho phép tiết kiệm đáng kể chi phí hoạt động và tổng chi phí. Sáp nhập mở rộng thị trường (Market-extensions merger): Diễn ra giữa các DN hoạt động trên các thị trường khác biệt, không trùng nhau. Hình thức sáp nhập này không quá chú trọng đến những cơ hội giảm chi phí mà mục tiêu là những cơ hội thâm nhập các thị trường mới, đa dạng hóa nguồn thu nhập, và tăng doanh thu. Ngoài các chiến lược mua lại đã kể trên, hoạt động M&A còn xảy ra dưới các hình thức: (i) Một DN nhỏ mua lại một DN lớn hơn; (ii) Một DN tư nhân “ mua lại” DN cổ phần; (iii) Sáp nhập tăng thêm EPS (Accretive Mergers): Đây là hình thức một DN có P/E cao sáp nhập với một DN có P/E thấp và tạo ra một DN 16 mới có EPS tăng cao; (iv) Sáp nhập làm giảm EPS (Delulive merger): Đây là hình thức một DN có P/E thấp sáp nhập với một DN có EPS cao và tạo ra một DN mới có EPS thấp hơn.
Những động cơ thúc đẩy thực hiện M&A doanh nghiệp 1. Hợp lực thay cạnh tranh Hoạt động mua bán sáp nhập diễn ra tất yếu sẽ giảm đi các số lượng người chơi vốn dĩ là các đối thủ cạnh tranh của nhau trên thương trường cũng có nghĩa sức nóng cạnh tranh không những giữa các bên liên quan mà cả thị trường nói chung sẽ được hạ nhiệt. Hơn nữa, tư duy cùng thắng (win-win) đang ngày càng chiếm ưu thế đối với tư duy cũ thắng (win)- thua (lose). Trong một thương vụ M&A thành công, giá trị của tổ chức sau kết hợp thường lớn hơn tổng giá trị của từng DN khi hoạt động riêng lẻ.
Trong đó, F(A) là giá trị của DN A; F(B) là giá trị của DN B, F(A+B) là giá trị của DN A và B sau khi sáp nhập. Giá trị cộng hưởng là giá trị tăng thêm tạo ra khi kết hợp hai DN: Giá trị cộng hưởng = F(A+B) – {F(A) – F(B)} 1. Nâng cao hiệu quả Nâng cao năng lực tài chính: thông qua M&A, các DN có thể tăng vốn chủ sở hữu, giảm chi phí đi vay, chủ động nguồn vốn cho các dự án đầu tư, tạo lòng tin cho các chủ nợ chi phí huy động vốn sẽ giảm. Nâng cao hiệu quả nhờ quy mô khi nhân đôi thị phần, giảm chi phí cố định, chi phí nhân công, hậu cần, phân phối do loại trừ các yếu tố trùng lắp.
Các DN còn có thể bổ sung cho nhau về nguồn lực (đầu ra) và các thế mạnh khác của nhau như thương hiệu, thông tin, bí quyết, dây chuyền công nghệ, cơ sở khách hàng, hay tận dụng những tài sản mà mỗi DN chưa sử dụng hết giá trị (chẳng hạn một DN chứng khoán sáp nhập với một ngân hàng) nhờ đó mà chất lượng sản phẩm được nâng cao. Ngoài ra, còn có trường hợp DN thực hiện M&A với một DN đang thua lỗ nhằm mục đích trốn thuế cho phần lợi nhuận của bản thân. Nâng cao hiệu quả hoạt động nhờ sự năng động, tăng tính linh hoạt, phản ứng nhanh với những thay đổi của thị trường do đa dạng hóa danh mục đầu tư, phân tán rủi ro nhờ đa dạng hóa sản phẩm, nắm bắt thông tin tốt nhờ có mối quan hệ rộng rãi và nắm nhu cầu thị trường tốt, hạn chế bất lợi về thông tin không cân xứng. Tham vọng bành trướng tổ chức và tập trung quyền lực thị trường Các DN đã thành công thường nuôi tham vọng rất lớn trong việc phát triển tổ 17 chứccủa mình ngày một lớn mạnh và thống trị không những trong phân khúc và dòng sản phẩm hiện tại mà còn lan sang cả những lĩnh vực khác.
Hoạt động sáp nhập này là công cụ để các nhà quản lý thu mua gia tăng quyền lực và thu nhập. Điều này khiến nhiều khi đưa ra những quyết định sáp nhập và mua lại không cần thiết gây lãng phí và không hiệu quả. Giảm chi phí gia nhập thị trường Ở những thị trường có sự điều tiết mạnh của chính phủ, việc gia nhập thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều điều kiện khắt khe, hoặc chỉ thuận lợi trong một giai đoạn nhất định, thì những DN đến sau chỉ có thể gia nhập thị trường đó thông qua thâu tóm những DN đã hoạt động trên thị trường. Điều này rất phổ biến đối với đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, đặc biệt là ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm.
Hơn nữa, không những tránh được các rào cản về thủ tục để đăng ký thành lập (vốn pháp định, giấy phép), bên mua lại còn giảm được cho mình chi phí và rủi ro trong quá trình xây dựng cở sở vật chất và cơ sở khách hàng ban đầu. Nếu sáp nhập một DN đang ở thế yếu trên thị trường, những lợi ích này còn lớn hơn giá trị vụ chuyển nhượng, và chứng minh quyết định gia nhập thị trường theo cách này của người “đến sau” là một quyết định đúng đắn. Trong một số trườnghợp mục đích chính của người thực hiện M&A không chỉ là gia nhập thị trường mà còn nhằm mua lại một ý tưởng kinh doanh có nhiều triển vọng. Chiến lược đa dạng hóa và dịch chuyển trong chuỗi giá trị Nhiều DN chủ động thực hiện M&A để hiện thực hóa chiến lược đa dạng hóa sản phẩmhoặc mở rộng thị trường của mình.
Khi thực hiện chiến lược này, DN sẽ xây dựng được cho mình một danh mục đầu tư cân bằng hơn nhằm tránh rủi ro phi hệ thống. Các phương thức thực hiện mua lại và sáp nhập doanh nghiệp Tùy thuộc vào mục tiêu, cấu trúc sở hữu, lợi thế so sánh, đặc điểm quản trị, văn hóa DN của các DN trong giao dịch sẽ có các cách thức thực hiện thâu tóm và sáp nhập khác nhau. Một số phương thức mua lại và sáp nhập phổ biến là: 1. Nếu cái giá “chào thầu” đó đủ sức hấp dẫn phần lớn các cổ đông, đủ sức lôi kéo họ từ bỏ quyển sở hữu và quản lí DN, họ sẽ tiến hành họp Đại hội cổ đông và tại đó quyết định bán toàn bộ cố phần của mình cho DN thôn tính.DN thôn tính sau khi là chủ sở hữu thực sự của DN mục tiêu sẽ bán lại cổ phần của DN này lại ra công chúng Để ngăn chặn âm mưu thôn tính này, ban quản trị của DN mục tiêu có thể tìm kiến sự trợ giúp từ các tổ chức tài chính có tiền lực mạnh nhằm đưa ra giá chào thầu cao hơn cái mức mà DN thôn tính đưa ra.
Lôi kéo các cổ đông bất mãn (Proxy Fights) Tiến hành M&A theo phương thức lôi kéo các cổ đông bất mãn cũng được sử dụng trong các vụ” thôn tính mang tính thù địch”. Khi lâm vào tình trạng kinh doanh yếu kém và thua lỗ, luôn có một bộ phận không nhỏ cổ đông bất mãn và muốn thay đổi ban quản trị và điều hành DN mình. DN cạnh tranh có thể lợi dụng tình cảnh này để lôi kéo bộ phận cổ đông đó. Trước tiên, thông qua thị trường, họ sẽ mua một số lượng cổ phần tương đối lớn (nhưng chưa đủ để chi phối) cổ phiếu trên thị trường để trở thành cổ đông của DN mục tiêu.
Sau khi nhận được sử ủng hộ, họ và các cổ đông bất mãn sẽ triệu tập họp Đại hội cổ đông, hội đủ số lượng cổ phần chi phối để loại ban quản trị cũ và bầu đại diện của DN thôn tính vào Hội đồng quản trị mới.