Chương 1 tiến hành giới thiệu tổng quan về sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, sơ lược về phương pháp nghiên cứu tiếp cận, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu và khái quát được kết cấu của đề tài nghiên cứu. LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG 2. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHDN. Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Khi ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay cụ thể thì trong hoạt động đó luôn hàm chứa rủi ro tiềm ẩn, rủi ro này sẽ làm giảm khoản thu nhập của ngân hàng. Do đó trong hoạt động quản lý toàn bộ ngân hàng luôn xác định một tỷ lệ tổn thất dự kiến nhằm hạn chế mức tối thiểu các thiệt hại về tài sản do các rủi ro cho vay gây ra. Theo Ủy Ban Basel, rủi ro trong hoạt động cho vay được hiểu đơn giản là khả năng người đi vay không thể thực hiện các nghĩa vụ nợ đã được các bên thỏa thuận. Cụ thể hơn, rủi ro trong hoạt động cho vay là khả năng khách hàng không thực hiện việc hoàn trả nợ gốc và/hoặc lãi vay một cách đầy đủ, đúng thời hạn đã quy định tại hợp đồng tín dụng.
Nguyên nhân của việc vi phạm này xuất phát từ việc người đi vay không có khả năng trả nợ hoặc phá sản - default. Theo tài liệu Basel Committee on Banking Supervision - 2006, Ủy Ban Basel đã định nghĩa “default-không có khả năng trả nợ” là những khách hàng thuộc một hoặc tất cả các trường hợp sau: khách hàng không có khả năng thanh toán đầy đủ nợ khi đến hạn mà chưa tính đến việc ngân hàng bán tài sản đảm bảo để thu nợ hoặc/và khách hàng có khoản nợ xấu có thời gian quá hạn trên 90 ngày. Ở Việt Nam, NHNN phân loại nợ thành 5 nhóm theo quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013. Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng được trình bày tại Bảng 2.1 trình bày cơ sở phân loại khách hàng và khả năng trả nợ của khách hàng.1 Phân loại khách hàng và khả năng trả nợ Loại khách hàng Khả năng trả nợ Phân loại nợ - Không có nợ quá hạn Nhóm 1-2 Có khả năng trả nợ - Nợ quá hạn <= 90 ngày Không có khả năng - Nợ quá hạn > 90 ngày Nhóm 3-5 trả nợ - Nợ gia hạn Nguồn: Thông tư 02/2013/TT-NHNN 2.
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHDN Theo Ghosh (2012) thì có sự tồn tại song song, xen lẫn nhau giữa các yếu tố nội tại và bên ngoài gây nên rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Khủng hoảng kinh tế, biến động chính trị xã hội, thị trường,… là các yếu tố bên ngoài. Yếu tố bên trong có thể kể đến là sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cách thức quản lý khách hàng của ngân hàng,… Tất cả các yếu tố trên đều có thể gây nên rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Khả năng trả nợ của khách hàng là yếu tố trọng yếu để xác định mức độ rủi ro, thể hiện qua: 2.
KHẢ NĂNG TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP. Khả năng tài chính của một công ty chủ yếu được thể hiện qua các tiêu chí được tính toán dựa vào báo cáo tài chính như: tỷ lệ sinh lời từ tài sản, suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, giá trị DN trên thị trường…. Các nghiên cứu thực nghiệm về rủi ro tín dụng đều đi đến một kết luận rằng các chỉ số tài chính là hữu ích trong việc đo lường khả năng trả nợ vay của KHDN. Nhìn chung, các chỉ số về khả năng thanh toán, lợi nhuận được sử dụng khá phổ biến.
Các nghiên cứu đã minh chứng được tính hiệu quả trong đo lường rủi ro tài chính và rủi ro tín dụng theo thời gian. Altman (1968) kết hợp phân tích chỉ số để phát triển một mô hình cho thấy những tác động đáng kể về năng lực tài chính về xác suất trả nợ của một công ty có khả năng dự đoán trong một năm trước khi trở nên mất khả năng thanh toán. Nhìn chung, các chỉ số tài chính thường được chia thành bốn loại: lợi nhuận, thanh khoản, hiệu quả hoạt động, và cơ cấu vốn. QUY MÔ DOANH NGHIỆP.
Các DN nhỏ, các DN mới thành lập thường có rủi ro cao hơn so với các DN quy mô lớn. Nguyên nhân là do khả năng quản lý và nguồn lực tài chính yếu kém của những DN nhỏ này rất dễ bị tác động bởi các yếu tố tiêu cực trên thị trường. 9 Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng quy mô DN có tác động cùng chiều đến khả năng trả nợ vay của KHDN. Trong nghiên cứu của Cassar (2004) đã chỉ ra các DN quy mô nhỏ gặp phải nhiều khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến bất cân xứng thông tin với ngân hàng để có thể được cấp tín dụng.
Hơn nữa, bởi vì các tài sản của DN nhỏ thường có trị giá thấp. Do đó, trên thực tế các DN này rất khó khăn trong việc chứng minh với người cho vay rằng họ có đủ khả năng để thực hiện các cam kết giữa hai bên. THỜI GIAN VAY. Việc kiểm soát rủi ro của các ngân hàng thương mại đối với các khoản vay dài hạn của KHDN sẽ khó khăn hơn.
Trong nghiên cứu của Flannery (1986) đã chỉ ra trong trường hợp thông tin bất cân xứng thì các khách hàng nhận định bản thân DN có rủi ro tín dụng thấp sẽ ưa thích vay ngắn hạn hơn thay vì vay dài hạn nhằm tiết kiệm chi phí lãi vay. Do đó, KHDN rủi ro thấp hơn sẽ lựa chọn tài chính ngắn hạn, thể hiện qua khả năng thanh toán nợ tốt. KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP. Lê Phương Dung và Nguyễn Thị Nam Thanh (2013) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến các khoản vay ngân hàng ngắn hạn của các DN chế biến thực phẩm và sản xuất các ngành công nghiệp.
Nghiên cứu chỉ ra rằng kinh nghiệm hoạt động của DN được đo lường thông qua độ tuổi của DN và loại hình DNNN (DN có vốn đầu tư của nhà nước hay không). Các DN hoạt động lâu năm có nhiều kinh nghiệm trong việc tiếp cận với các xu hướng mới cũng như thích ứng tốt hơn trong thị trường biến động, và do đó rủi ro hoạt động của các DN này được kiểm soát có hiệu quả. Hơn nữa, các DN lâu năm thường có thị phần tương đối ổn định, vì vậy doanh thu và lợi nhuận của họ được duy trì đều đặn qua các năm. Điều này sẽ ảnh hưởng tốt đến khả năng vay và trả nợ của các DN.
LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC. Nghiên cứu này sử dụng một định nghĩa về doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) theo quy định tại Nghị định số 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước cho DNNN vào ngày 15/11/2012. Nghị định này quy định DNNN là DN trong đó Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, bao gồm các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (trong đó Nhà 10 nước nắm giữ 100% vốn điều lệ); công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (trong đó Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ). Trong nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương và Nguyễn Thanh Tùng (2013) nghiên cứu về lựa chọn mô hình đo lường rủi ro thích hợp cho một khoản vay tập đoàn kinh tế nhà nước tại các NHTM Việt Nam, tác giả đã dùng mô hình hồi quy Logit trên bộ dữ liệu nghiên cứu bao gồm 490 khách hàng có mối quan hệ với các NHTM Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2011.
Kết quả nghiên cứu cho thấy với độ tin cậy 90%, nếu khách hàng vay là Tập đoàn kinh tế Nhà nước khả năng không trả nợ vay đúng hạn và trong vòng 90 ngày cao hơn so với DN khác (DNNN thường là đối tượng có mối quan hệ lâu năm với ngân hàng, mục đích vay vốn đầu tư, xây dựng và có giá trị khoản vay thường rất lớn). TÀI SẢN ĐẢM BẢO. Dựa trên các tiêu chuẩn của ngân hàng trong việc quản lý rủi ro tín dụng, ngân hàng thường đòi hỏi tài sản đảm bảo nhiều hơn đối với các KHDN được nhận định là có rủi ro cao. Các công ty, tập đoàn lớn khi chứng minh được uy tín cũng như tiềm lực tài chính thì những công ty này sẽ ít phải thế chấp tài sản.
Theo đó, CBTD thường cho rằng với các khoản vay có tỷ lệ TSĐB cao sẽ giảm thiểu được rủi ro, tổn thất nhiều hơn trong trường hợp khách hàng không có khả năng trả nợ và vì thế trong nhiều trường hợp việc chọn lựa, sàng lọc khách hàng của CBTD là chưa chính xác. Đây cũng là một trong những yếu tố chính dẫn đến việc không trả được nợ của các KHDN, bởi lẽ dịch vụ ngân hàng không phải là dịch vụ cầm đồ. Chính dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của khách hàng sẽ là yếu tố giúp các ngân hàng thương mại giảm được những tổn tất về vốn của mình. ĐO LƯỜNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP.
Đo lường rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tức là đo lường khả năng trả nợ của khách hàng dựa trên xếp hạng tín dụng của chính khách hàng đó. Các mô hình thường được sử dụng trong việc xếp hạng tín dụng KHDN bao gồm: 2. MÔ HÌNH CHUẨN ĐOÁN (HEURISTIC MODELS). Mô hình chuẩn đoán thực hiện việc thu thập, xử lý đánh giá, dự báo từ việc tổng hợp và tham khảo ý kiến chuyên gia để đưa đến kết luận, nhận định.
Mô hình 11 chuẩn đoán sẽ cung cấp dự báo về tình hình hiện tại và sự phát triển trong tương lai của một lĩnh vực dựa trên việc xử lý các dự báo của chuyên gia.