Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Thanh Xuân. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Thanh Xuân. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠN MẠI 1.
Tổng quan về hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV là loại hình doanh nghiệp phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và là đối tượng quan trọng tạo ra nền kinh tế của một xã hội. Khái niệm về DNNVV không chỉ đơn thuần phản ánh quy mô của doanh nghiệp mà còn bao trùm nội dung về kinh tế, tổ chức sản xuất, quản lý và tiến bộ khoa học công nghệ.
Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của từng nước, từng giai đoạn phát triển kinh tế khái niệm về DNNVV cũng thay đổi. Mặc dù có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại DNNVV thì 2 tiêu thức được sử dụng phổ biến nhất là số lượng lao động trung bình và tổng số vốn của doanh nghiệp. Dựa trên quy mô hay độ lớn của các doanh nghiệp thì ta có thể phân doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn, DNNVV. Tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank Quy mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm Siêu nhỏ <10 người < 100.000 USD Nhỏ <50 người < 3.000 USD Vừa <300 người < 15.000 USD Quy mô vay trung bình Siêu nhỏ < 10.000 USD Đối với các quốc gia tiên tiến) Nguồn: World Bank, 2012 Theo World Bank, DNNVV có thể phân theo quy mô như sau: Doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Những tiêu chí mà World Bank đưa ra để phân loại chủ yếu dựa vào số lao động bình quân; tài sản của doanh 9 nghiệp; doanh thu hàng năm đạt được. Ngoài ra, dựa vào nhu cầu vốn tín dụng, World Bank còn đưa thêm tiêu chí để phân loại DNNVV là quy mô vay trung bình. Tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của mỗi quốc gia, định nghĩa và tiêu chí xác định DNNVV khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia khi xác định DNNVV đều dựa vào quy mô về: Vốn; lao động thường xuyên tham gia sản xuất - kinh doanh; doanh thu của doanh nghiệp hay đặc điểm ngành nghề kinh doanh.
Trong nội dung phân tích của luận văn, tác giả sử dụng khái niệm DNNVV theo Nghị định 80/2021/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo Điều 5 Nghị định Nghị định 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 thì doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, cụ thể được thể hiện ở Bảng 1. Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công Thƣơng mại, dịch vụ Chỉ tiêu/ lĩnh nghiệp, xây dựng vực Doanh Doanh Doanh Doanh Doanh Doanh nghiệp nghiệp nghiệp nghiệp nghiệp nghiệp siêu nhỏ nhỏ vừa siêu nhỏ nhỏ vừa Số lao động Không Không Không Không Không Không tham gia bảo quá 10 quá 100 quá 200 quá 10 quá 50 quá 100 hiểm xã hội người người người người người người bình quân năm Tổng doanh Không Không Không Không Không Không thu của năm quá 3 tỷ quá 50 quá 200 quá 10 tỷ quá 100 quá 300 đồng tỷ đồng tỷ đồng đồng tỷ đồng tỷ đồng Tổng nguồn Không Không Không Không Không Không vốn quá 3 tỷ quá 20 quá 100 quá 3 tỷ quá 50 tỷ quá 100 đồng tỷ đồng tỷ đồng đồng đồng tỷ đồng (Nguồn: Nghị định 80/2021/NĐ-CP của Chính phủ) Việc đưa ra được tiêu chí đánh giá DNNVV phải dựa trên tình hình thực tế 10 của đất nước nhằm đánh giá đúng đối tượng, giúp việc hoạch định chính sách hoàn thiện hơn, kịp thời hỗ trợ hoạt động cho các doanh nghiệp. Đồng thời việc phân loại hợp lý cũng giúp bản thân doanh nghiệp dễ dàng định hướng phát triển cho mình.
Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, mỗi giai đoạn khác nhau có thể căn cứ và điều kiện cụ thể để đưa ra tiêu thức xác định DNNVV khác nhau. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Ngoài những đặc trưng vốn có của một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, DNNVV còn có những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ tính chất hoạt động như sau: Thứ nhất DNNVV có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ. Với lượng vốn đầu tư giới hạn và số lượng lao động tối đa là 300 người thì quy mô của doanh nghiệp là tương đối nhỏ. Điều này mang lại một số lợi thế cho DNNVV như khả năng dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh.
Những lợi thế này đã tạo điều kiện cho các DNNVV phát triển trong nhiều ngành nghề, trên nhiều địa bàn, lấp vào các khoảng trống mà các doanh nghiệp lớn để lại. Thứ hai, loại hình doanh nghiệp và ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh phong phú. DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp như hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.
Nhờ quy mô nhỏ, có khả năng tập dụng được nguồn lao động và nguyên vật liệu tại trong địa phương, dễ dàng đáp ứng được những thay đổi trong nhu cầu của thị trường nên DNNVV phát triển nhanh chóng, là nhân tố đóng góp vào ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thứ a, chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh hạn chế. Năng lực cạnh tranh của DNNVV thể hiện ở rất nhiều yếu tố như khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường, giá thành sản phẩm, uy tín thương hiệu, nguồn nhân lực chuyên nghiệp có tay nghề cao… Đối với DNNVV, do quy mô vốn bị hạn chế 11 nên việc đầu tư nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, quy trình sản xuất thường không được thường xuyên nên dẫn tới xu hướng rơi vào tình trạng công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém. Hệ quả là các DNNVV thường sử dụng công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao, thiếu kinh nghiệm và trình độ trong nắm bắt thông tin thị trường cũng như marketing sản phẩm, dịch vụ.
Bên cạnh đó, với quy mô sản xuất nhỏ, sản phẩm tiêu thụ ít, năng lực cạnh tranh kém, các DNNVV khó thu hút được các nhà quản lý và đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, nên nhiều DNNVV thiếu một chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu của doanh nghiệp mà đa phần chỉ xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu biến động của thị trường. Thứ tư hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa phụ thuộc vào biến động của môi trường kinh doanh. Quy mô vốn thấp, hoạt động sản xuất kinh doanh mang nặng tính thời vụ, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, nguồn vốn thiếu đa dạng dẫn đến mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và tính ổn định của DNNVV tương đối thấp. Chính vì vậy, những thay đổi trong môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh thường có những ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của DNNVV.
Tuy vậy, với quy mô nhỏ, DNNVV cũng có những lợi thế nhất định khi dễ dàng chuyển hướng kinh doanh sản xuất, tăng giảm lao động, thậm chí di chuyển địa điểm sản xuất dễ dàng hơn các doanh nghiệp lớn. Thứ năm, bộ máy điều hành gọn nh , có tính linh hoạt cao nhưng năng lực quản trị chưa cao. Với số lượng lao động không nhiều, cơ cấu tổ chức đơn giản, bộ máy quản lý gọn nh , hiệu quả, số lượng nhân viên ít và các nhân viên đôi khi đảm nhận nhiều vị trí, công việc cùng một lúc, đã làm tăng hiệu quả hoạt động của DNNVV; Các quyết định, các chỉ tiêu.đến với người lao động một cách nhanh chóng, tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp. Áp dụng mô hình quản lý trực tiếp nên các quyết định thường dựa được đưa ra nhanh chóng, nhạy bén với những thay đổi trong môi trường kinh doanh.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất DNNVV tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần giảm thất nghiệp. Các DNNVV tham gia ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế, thị trường đa dạng, ở nhiều vùng miền khác nhau nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động; kể cả những lao động ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế chưa phát triển, những lao động chưa có trình độ, tay nghề không cao. hi thị trường có những yếu tố bất lợi, các doanh nghiệp lớn với bộ máy cồng kềnh thường sa thải nhân công để cắt giảm chi phí thì với tính chất linh hoạt, năng động, các DNNVV có thể thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường, có thể đứng vững mà không cần cắt giảm nhân công, hoặc có thể nhanh chóng thu hút lại lực lượng lao động khi nền kinh tế đi vào chu kỳ phục hồi. Việc hình thành các tiểu khu, khu công nghiệp phụ trợ ở các vùng nông thôn, ở các tỉnh l thu hút một lượng lớn lao động dư thừa, tạo điều kiện gia tăng nguồn thu nhập, giảm tình trạng di cư từ khu vực nông thôn tới thành thị, từ đó giảm áp lực về các vấn đề xã hội ở khu vực thành thị [5].
Thứ hai, DNNVV khai thác và phát huy các nguồn lực địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Với lợi thế quy mô vốn đầu tư nhỏ, không yêu cầu nhân công trình độ cao, các DNNVV có thể hình thành và phát triển tại những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, những vùng kém phát triển, có điều kiện tự nhiên không thuận lợi hoặc cơ sở hạ tầng chưa phát triển.