CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của các Ngân hàng thuơng mại 1. Khái niệm doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp Theo Luật Doanh Nghiệp 2020 thì “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Các loại hình doanh nghiệp Căn cứ vào hình thức tổ chức pháp lý của doanh nghiệp, doanh nghiệp được chia thành: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Quy mô của doanh nghiệp này sẽ bị hạn chế do phụ thuộc vào tình hình tài chính của chủ doanh nghiệp. Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung. Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn.
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (MTV) và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên (2TV) trở lên. Công ty trách nhiệm hữu hạn 2TV trở lên là doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân.
Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. 10 Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp được hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông.
Cũng giống như công ty TNHH các cổ đông công ty chỉ chịu trách nhiệm trên phần vốn góp của họ. Lợi thế lớn nhất của công ty cổ phần dễ thâm nhập vào thị trường để huy động nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh. Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại Theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay của TCTD, CN Ngân hàng Nước ngoài đối với khách hàng “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Theo Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM ngày 16/07/2009 “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật " Có thể hiểu rằng cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp, theo đó ngân hàng giao cho doanh nghiệp một khoản vốn bằng tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi 1. Đặc điểm và phân loại hoạt động cho vay doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại 1.
Đặc điểm hoạt động cho vay doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại NHTM được coi là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận trên cơ sở tuân theo Luật 11 các Tổ chức tín dụng. Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của NHTM, hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp là một trong những hoạt động đóng góp lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng. Hoạt động cho vay doanh nghiệp của NHTM có những đặc điểm sau: Đối tượng khách hàng doanh nghiệp đa dạng vì các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau như xây dựng, vận chuyển, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đầu tư dự án. Mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp là để đáp ứng nhu cầu cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô doanh nghiệp như vay vốn để mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, trả lương cho nhân công, mua sắm tài sản, xây dựng và sửa chữa nhà xưởng, để ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Quy trình và các thủ tục cho vay doanh nghiệp phức tạp hơn vì tính pháp lý của doanh nghiệp phức tạp hơn nhiều so với cá nhân và hộ kinh doanh. Bên cạnh đó những khoản vay có giá trị lớn và tài sản đảm bảo thường phức tạp, khó định giá hơn vì các tài sản mà doanh nghiệp thường thế chấp chính nhà máy, máy móc thiết bị của mình. Nguồn trả nợ của các doanh nghiệp là doanh thu từ sản xuất kinh doanh, lợi nhuận, khấu hao và các nguồn thu khác. So với cho vay KHCN, KHDN có hệ thống thông tin tốt hơn, chặt chẽ hơn do đều có báo cáo tài chính và hệ thống thông tin kế toán.
Các thông tin tài chính thường được doanh nghiệp cung cấp từ các báo cáo tài chính, báo cáo thuế, báo cáo kiểm toán… 1. Phân loại hoạt động cho vay doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay Cho vay để bổ sung vốn lưu động: Mục đích của hình thức cho vay này của NHTM là cho các doanh nghiệp vay để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, nhằm bổ sung nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh như mua nguyên vật liệu, hàng hóa, công cụ dụng cụ, xăng dầu, trả lương 12 công nhân,… Dựa vào các đặc điểm kinh doanh của từng doanh nghiệp mà NHTM sẽ có phương thức cho vay, cách trả nợ và điều kiện cho vay phù hợp dựa trên nguồn thu hoạt động sản xuất kinh doanh. Cho vay đầu tư dự án: NHTM cho các doanh nghiệp vay vốn để thực hiện các dự án như: đầu tư phát triển sản xuất, dự án phục vụ đời sống. Cho vay mua sắm thiết bị: Mục đích nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ để mở rộng sản xuất kinh doanh.
Dựa theo thời hạn cho vay Căn cứ vào thời hạn cho vay, hoạt động cho vay doanh nghiệp chia làm 02 loại: cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn. Cho vay ngắn hạn: hình thức cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng nhằm bổ sung các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung vốn lưu động đảm bảo yêu cầu thanh toán cho nhà cung cấp kịp thời. Đặc điểm của loại hình cho vay này là có mức độ rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh hơn giảm thiểu được các rủi ro về việc thu hồi nợ. Do đó, loại cho vay này thường có lãi suất thấp hơn so với các loại hình cho vay trung và dài hạn khác.
Cho vay trung và dài hạn: loại cho vay này có thời gian vay trên 1 năm. Cho vay trung và dài hạn chủ yếu để đầu tư máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng. từ đó doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng và đầu tư các dự án. Vì thời hạn dài và hiệu quả đầu tư là dự tính nên hình thức cho vay này thường chứa đựng mức rủi ro cao.
Do đó loại hình cho vay này có mức lãi suất cao hơn so với cho vay ngắn hạn Dựa theo tính chất bảo đảm của khoản vay Cho vay có tài sản đảm bảo: Là loại hình cho vay dựa trên cơ sở các tài sản được đảm bảo mang đi thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh. Hình thức đảm bảo này là cơ sở để NHTM có nguồn thu nợ thứ hai trong việc thu hồi vốn vay bằng cách bán các tài sản đó khi lợi nhuận của phương án không đủ để trả. Cho vay không đảm bảo: Là khoản cho vay mà NHTM chỉ dựa vào uy tín của 13 bản thân khách hàng không dựa trên các tài sản đảm bảo. Hình thức vay này thường áp dụng cho các doanh nghiệp đã có quan hệ hợp tác lâu dài với ngân hàng, có tình hình tài chính lành mạnh, có uy tín trong việc trả nợ … 1.
Vai trò của cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1. Vai trò đối với nền kinh tế Đầu tiên, khi thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại nguồn vốn tiền tệ, NHTM đã huy động những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, để cho doanh nghiệp vay đã góp phần làm giảm khối lượng tiền tệ tồn đọng trong lưu thông. Đây là một trong những yếu tố tích cực làm giảm việc sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế. Vì thế, cho vay KHDN được xem là một trong các biện pháp hiệu quả góp phần giảm thiểu lạm phát, và ổn định tiền tệ.
Ngoài ra, do cung ứng vốn vay cho nền kinh tế, góp phần giúp cho doanh nghiệp hoàn thành các kế hoạch sản xuất kinh doanh đề ra…nâng cao hiệu quả sản xuất, hàng hoá dịch vụ làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng được nhu cầu của xã hội, và tăng khả năng thu hút được nhiều lực lượng lao động trong xã hội để tạo ra lực lượng sản xuất từ đó mà góp phần làm ổn định thị trường giá cả trong nước. Thứ hai, góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển, thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu. Thứ ba, thông qua nguồn vốn cho vay cho các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, hệ thống ngân hàng đã hỗ trợ trong việc tạo công ăn việc làm mới và thu hút lao động, cải thiện thu nhập, nhất là tại các vùng nông thôn. Việc sử dụng nguồn vốn ngân hàng cho mục đích vay vốn ngày càng có tính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả.