phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Những vấn đề cơ bản về chất lƣợng cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thƣơng mại; Chƣơng 2. Thực trạng chất lƣợng cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Phƣơng Đông - Chi nhánh Hà Nội; Chƣơng 3. Giải pháp về chất lƣợng cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Phƣơng Đông - Chi nhánh Hà Nội.
6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm doanh nghiệp Trƣớc hết, doanh nghiệp đƣợc hiểu là một tổ chức kinh tế, thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng hàng hoá và dịch vụ trên thị trƣờng với mục tiêu thu đƣợc lợi nhuận hoặc phục vụ mục đích công cộng. Tuỳ theo từng đặc thù về lĩnh vực sản xuất, ngành nghề kinh doanh, địa bàn hoạt động hay hình thức tổ chức mà doanh nghiệp đƣợc gọi theo các thuật ngữ khác nhau nhƣ: công ty, xí nghiệp, nhà máy, nhà xƣởng sản xuất,.
Căn cứ theo Khoản 10, Điều 4 của Luật doanh nghiệp 2020 số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội Việt Nam thì khái niệm doanh nghiệp đƣợc phát biểu nhƣ sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Nhƣ vậy có thể thấy, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế độc lập, có tên gọi, cơ cấu bộ máy tổ chức điều hành, cơ cấu nhân sự rõ ràng. Doanh nghiệp phải có tài sản riêng để quản lý và trụ sở giao dịch riêng, đăng ký theo đúng quy định. Doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trƣờng theo quy định của pháp luật và chịu mọi trách nhiệm về hoạt động của mình với mục đích chính là sinh lợi.
Ngoài ra, có một số ít các doanh nghiệp hoạt động không vì mục tiêu tối đa hoá lợi ích của tổ chức mà hoạt động nhằm phục vụ trong lĩnh vực công cộng, môi trƣờng, xã hội. Khái niệm, đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp 1. Khái niệm khách hàng doanh nghiệp Quan niệm khách hàng doanh nghiệp của các ngân hàng thƣơng mại đƣợc hiểu là các doanh nghiệp, tổ chức có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ. 7 Doanh nghiệp sau khi đƣợc hoàn thiện các hồ sơ về mặt pháp lý cũng nhƣ đƣợc cấp giấy chứng nhận kinh doanh, tiến hành đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm cung ứng sản phẩm, hàng hoá dịch vụ ra thị trƣờng trong và ngoài nƣớc.
Khi đó, doanh nghiệp phát sinh nhu cầu vốn đầu tƣ nhập liệu nguyên vật liệu đầu vào, các chi phí khác cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh, nhu cầu thanh toán cho các đối tác đầu vào và đầu ra cả trong nƣớc và quốc tế, các dịch vụ khác nhằm mục đích phục vụ cho việc hoạt động của mình. Và họ đã tìm đến ngân hàng nhằm thoả mãn các nhu cầu trên. Đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp Khách hàng doanh nghiệp có tính hợp pháp, đƣợc Nhà nƣớc công nhận sự tồn tại thông qua Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp doanh nghiệp mới thành lập. Đồng thời, doanh nghiệp phải có tính tổ chức, cơ cấu bộ máy tổ chức, nhân sự rõ ràng, chịu trách nhiệm cho các hoạt động của mình trong hoạt động sản xuất, kinh doanh bằng chính tài sản riêng của mình.
Đối tƣợng khách hàng doanh nghiệp phong phú và đa dạng, đƣợc thể hiện qua nhiều lĩnh vực hoạt động kinh doanh khác nhau; có nhiều quy mô nhƣ: khách hàng doanh nghiệp lớn, khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng doanh nghiệp siêu nhỏ,. Thông tin thuộc về đối tƣợng khách hàng doanh nghiệp rõ ràng, chặt chẽ do đều có hệ thống các báo cáo tài chính, thông tin kế toán. Các thông tin về tài chính của khách hàng đƣợc cung cấp từ hệ thống thuế hoặc kiểm toán. Mục đích vay vốn của khách hàng doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh; đầu tƣ mở rộng quy mô; đầu tƣ tài sản, trang thiết bị, máy móc, nhà xƣởng phục vụ trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cung ứng sản phẩm, dịch vụ thƣờng xuyên, lâu dài với mục tiêu chính thu đƣợc lợi nhuận hoặc hƣớng đến các yếu tố cộng đồng, xã hội và môi trƣờng.
Nguồn trả nợ của khách hàng doanh nghiệp dựa trên lợi nhuận bán hàng, cung cấp dịch vụ và khấu hao tài sản cố định trong kỳ của doanh nghiệp. Vai trò của doanh nghiệp đối với nền kinh tế Một số vai trò của doanh nghiệp đối với nền kinh tế nhƣ sau: Thứ nhất, góp phần cung ứng hàng hoá với khối lượng đáng kể cho xã hội. Trên thị trƣờng hàng hoá, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, các tập đoàn rất gay gắt, đa dạng cả về chủng loại, chất lƣợng và số lƣợng. Vì vậy, doanh nghiệp phải thu hút nhiều nguồn tài nguyên và nhân lực để sản xuất ra hàng hoá phục vụ nhu cầu ngƣời tiêu dùng, tạo ra nhiều cơ hội cho ngƣời tiêu dùng đƣợc chọn lựa.
Thứ hai, thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động và hiệu quả hơn. Một nền kinh tế tăng trƣởng có tỷ lệ với sự phát triển của các doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần bắt kịp và trở nên nhanh nhẹn, thích ứng kịp thời với sự biến động trên thị trƣờng để nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Thứ ba, đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động, ổn định đời sống xã hội Doanh nghiệp có thể tạo ra cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý, nhiều khu vực và nhiều đối tƣợng lao động, kể cả những khu vực vùng sâu vùng xa, khu vực kinh tế chậm phát triển, cả những lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề thấp.
Doanh nghiệp có khả năng thu hút đông đảo lực lƣợng lao động trong xã hội tham gia quá trình sản xuất, kinh doanh nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng mạnh mẽ. CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp Hoạt động cho vay giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại, đóng góp lớn tạo ra lợi nhuận của ngân hàng. Ngân hàng thƣơng mại có thể thực hiện cho vay đối với nhiều đối tƣợng khách hàng khác nhau: các cá nhân, doanh nghiệp hay các ngân hàng thƣơng mại, tổ chức tín dụng (TCTD) khác.
Tuỳ thuộc vào từng nhu cầu vay vốn của từng đối tƣợng khác nhau mà ta có những khái niệm cho vay ở các khía cạnh khác nhau. Trong đó, cho vay khách hàng doanh nghiệp là hoạt động mang lại nhiều tiềm năng và nguồn thu nhập cao cho ngân hàng thƣơng mại. 9 Nhƣ vậy có thể khái quát, khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp là một hình thức cấp tín dụng mà trong đó, ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò là bên cho vay thực hiện chuyển giao một số tiền nhất định cho khách hàng của mình là các doanh nghiệp có nhu cầu vốn và sử dụng số tiền này vào mục đích phục vụ sản xuất, kinh doanh theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian xác định. Hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của các ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò to lớn trong việc luân chuyển vốn từ nơi có nguồn vốn dƣ thừa đến nơi bị thiếu hụt vốn trong xã hội, góp phần phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp.
Đặc trƣng cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thƣơng mại Một số đặc trƣng cho vay khách hàng doanh nghiệp nổi bật của ngân hàng thƣơng mại nhƣ: Đối tƣợng khách hàng doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú. Các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực nhƣ: nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, xây lắp, thƣơng mại, sản xuất, xuất nhập khẩu,. do đó mục đích vay vốn khác nhau đối với các khách hàng doanh nghiệp khác nhau. Nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng doanh nghiệp thƣờng là các khoản vay có giá trị lớn nhằm đáp ứng quá trình sản xuất, mở rộng quy mô kinh doanh nhƣ nhập nguyên vật liệu đầu vào; xây mới, cải tạo phân xƣởng; đầu tƣ trang thiết bị, máy móc hiện đại vào trong sản xuất kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận và công suất làm việc cao hơn.
Thủ tục, quy trình đối với cho vay khách hàng doanh nghiệp phức tạp hơn vì hồ sơ pháp lý cũng nhƣ hồ sơ tài chính phức tạp. Là các khoản vay giá trị lớn, nhiều tài sản đảm bảo phức tạp, khó khăn hơn trong việc định giá tài sản bảo đảm (TSBĐ) cho các khoản vay. Về hồ sơ tài chính chặt chẽ thông qua hệ thống kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo thuế, kiểm toán,. Nguồn trả nợ của khách hàng doanh nghiệp chủ yếu đến từ lợi nhuận, khấu hao tài sản cố định và các nguồn thu hợp pháp khác trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
10 Bên cạnh việc đem lại nguồn lợi nhuận lớn thì hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, gây ra tổn thất cho các ngân hàng thƣơng mại nhƣ: + Thông tin về doanh nghiệp không rõ ràng, minh bạch làm cho ngân hàng không thể chủ động trong việc nắm bắt đƣợc các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, do đó khi quyết định cho vay ngân hàng dễ bị mất vốn. + Doanh nghiệp sử dụng vốn vay sai mục đích nhƣ phục vụ cho lợi ích cá nhân và gia đình cũng gây ra các rủi ro làm mất vốn của ngân hàng. + Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thƣờng có xu hƣớng phụ thuộc vào một số đối tác lớn khác, khi những đối tác này gặp khó khăn thì doanh nghiệp cũng điêu đứng, từ đó gây tổn thất lớn cho ngân hàng. + Công tác quản lý tài chính của các doanh nghiệp còn nhiều yếu kém, bị hạn chế, vốn tự có chƣa cao rất dễ mất tính thanh khoản khi gặp khó khăn, gây ra các rủi ro cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ vay đúng hạn.
Phân loại cho vay khách hàng doanh nghiệp 1. Căn cứ theo tiêu chí thời gian Hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp đƣợc chia làm hai loại phân theo tiêu chí thời gian cho vay.