CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY DNV&N I. KHÁI QUÁT VỀ DNV&N VÀ CÁC DNV&N Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm về DNV&N Hiện nay, tiêu chí phân loại các DNV&N của các chuyên gia và của các nước khác nhau là rất khác nhau, để thuận lợi cho việc quản lý hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, người ta thường dựa theo tiêu thức quy mô để phân loại doanh nghiệp. Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (WB) và IFC, các doanh nghiệp được phân chia theo quy mô như sau: Doanh nghiệp vô cùng nhỏ (Micro-enterprise): Có đến 10 lao động, tổng tài sản của doanh nghiệp có giá trị không quá một trăm ngàn USD đồng thời tổng doanh thu hàng năm không quá một trăm ngàn USD.
Doanh nghiệp nhỏ (small-enterprise): Có không quá 50 lao động, tổng tài sản có giá trị không quá 3 triệu USD, và tổng doanh thu hàng năm không quá 3 triệu USD. Doanh nghiệp cỡ vừa (Medium-enterprise): Có không quá 300 lao động, tổng tài sản có trị giá không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15 triệu USD. Ở các nước, khái niệm về DNV&N thường được một tổ chức/cơ quan công bố trên cơ sở đã khảo sát, thống kê. Bảng dưới đây tóm tắt một số tiêu chí xác định DNV&N tại một số quốc gia được lựa chọn.
Nói chung, các mức ngưỡng có xu hướng cao hơn ở các nước phát triển và thấp hơn tại các nước đang phát triển. 3 Biểu 1: Các tiêu chí xác định DNV&N tại một số quốc gia Quốc gia Tiêu chí xác định DNV&N Cơ sở đo lường Canada -Dịch vụ: Chưa đến 300 nhân Số nhân công và doanh viên,doanh thu hàng năm không quá thu. -Sản xuất: Chưa đến 500 nhân viên, doanh thu hàng năm không quá 25 triệu CAD(20 triệu USD) Chi lê -Vi mô: Doanh thu duới 2.400 UF Doanh thu. -Nhỏ: Doanh thu dưới 25000 UF (740.
Nhật Bản -Sản xuất: Dưới 300 nhân viên, hay Tài sản và số nhân công. tài sản có giá trị dưới 10 triệu Yên (92. -Bán buôn: Dưới 30 nhân viên, tài sản dưới 30 triệu Yên. Hàn Quốc -Sản xuất: Dưới 300 nhân viên.
Số nhân công. -Dịch vụ: Dưới 20 nhân viên Singapore -Sản xuất: Tài sản cố định dưới 12 Tài sản và số nhân công. -Dịch vụ: Dưới 100 nhân viên. Quốc gia Tiêu chí xác định DNV&N Cơ sở đo lường 4 Đài Loan -Sản xuất: Vốn chủ sở hữu dưới 40 Vốn chủ sở hữu, Tài sản triệu NTD (1,3 triệu USD),và tổng và doanh thu.
tài sản dưới 120 triệu NTD(3,6 triệu USD). - Kinh doanh, vận tải và các dịch vụ khác: Doanh thu dưới 40 triệu NTD(1,3 triệu USD). Thái lan -Duới 200 nhân viên trong những Số nhân công và Vốn. ngành cần nhiều lao động.
-Dưới 100 triệu Bạt(2,4 triệu USD) đối với ngành nghề cần vốn lớn. Mỹ -Sản xuất:500 nhân viên. Số nhân công và doanh -Thưong mại bán buôn -100 nhân thu. -Bán lẻ và Dịch vụ doanh thu hàng năm đạt 6 triệu USD.
-Nông nghiệp: Đạt 0,75 triệu USD. (Nguồn: Đại học Tổng hợp Công nghệ, Sydney) Ở Việt Nam, văn bản luật đầu tiên quy định thống nhất tiêu chí xác định DNV&N là công văn số 681/CP-KTN của Chính phủ ngày 20 tháng 6 năm 1998. Theo đó DNV&N là doanh nghiệp có số nhân công dưới 200 người và có số vốn kinh doanh không quá 5 tỷ đồng. Tiêu chí này được sử dụng nhằm xác định 1 bức tranh chung về DNV&N ở Việt Nam phục vụ cho việc hoạch định chính sách của Nhà nước, và làm căn cứ cho các ngân hàng phân loại khách hàng của mình.
Trên thực tế, cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, số lượng doanh nghiệp ngày một tăng và không ít số doanh nghiệp có vốn vượt mức quá 5 tỷ đồng, nhưng các doanh nghiệp vẫn chưa đủ mạnh để coi là 1 5 doanh nghiệp lớn. Chính vì thế theo Nghị định số 90/2001 NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ thì DNV&N được xác định lại như sau:“ DNV&N là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã được đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Việc phân loại DNV&N như trên phù hợp với tiêu chí phân loại của Tổng cục Quản lý vốn và tài sản (về tổng giá trị vốn) và Luật Khuyến khích Đầu tư Trong nước ( về số lao động). Có thể thấy rằng tiêu chí phân loại của Việt Nam đã có sự tương đồng nhất định về căn cứ phân loại so với tiêu chí phân loại của các tổ chức, các nước trên thế giới.
Tuy nhiên rõ ràng rằng, mỗi ngành nghề kinh doanh cần có đặc trưng nhất định về quy mô tài sản, vốn và số lao động riêng, doanh thu cũng là một yếu tố quan trọng cần xét đến.Vì vậy việc phân loại như qui định trong Nghị định số 90/2001 NĐ-CP ngày 23/11/2001 là chưa bám sát thực tế. Mới đây NHCTVN đã quyết định phân đoạn khách hàng của mình, và coi các DNV&N là một phân đoạn riêng biệt. NHCTVN xác định doanh nghiệp lớn là những doanh nghiệp có doanh thu đạt tương đương hơn 300 triệu USD, hoặc tổng tài sản có giá trị hơn 300 triệu USD, hoặc là công ty con của một tập đoàn đa quốc gia và tập đoàn đó đáp ứng một trong các tiêu chí nêu trên. Các doanh nghiệp khác được phân loại là DNV&N.
Như vậy tiêu chí xác định DNV&N của NHCTVN khác xa so với những tiêu chí xác định DNV&N tại Việt Nam và tất cả các quốc gia khác. Vì vậy tiêu chí này nên được điều chỉnh để phù hợp hơn với thông lệ quốc tế. Đồng thời NHCTVN cũng cần phân loại rõ ràng hơn nhằm phân biệt giữa doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Các đặc trưng cơ bản và vai trò của DNV&N ở Việt Nam 2.
Các đặc trưng cơ bản của DNV&N ở Việt Nam 2. Là bộ phận doanh nghiệp đầy tiềm năng Số lượng DNV&N chiếm tỷ trọng lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh: hiện nay số lượng DNV&N Việt Nam là 160.000, chiếm 96% tổng số doanh nghiệp Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp khoảng 10%/năm. Đa dạng về hình thức sở hữu, tham gia ở hầu hết các lĩnh vực kinh doanh ( thương mại - dịch vụ, công nghiệp…) và địa bàn hoạt động rộng nên khả năng phát triển của các DNV&N là rất lớn (từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi), tạo khả năng tiếp cận tất cả các thị trường và làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn.2 Năng động, linh hoạt sáng tạo trong kinh doanh Nhờ quy mô vừa, nhỏ, mô hình tổ chức quản lý giản đơn nên những doanh nghiệp này rất năng động, linh hoạt, dễ chuyển hướng sản xuất kinh doanh sang những ngành nghề khác khi thấy lĩnh vực đó có lợi hơn.
DNV&N khi chuyển địa điểm sản xuất kinh doanh, chuyển hướng sản xuất kinh doanh không gặp nhiều khó khăn như doanh nghiệp lớn. Ngoài ra DNV&N lại có thể nhanh chóng nắm bắt được cả những yêu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực, địa phương, phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đạt được hiệu qủa kinh doanh cao nhất.3 Có thể nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích ứng với cuộc cách mạng KHCN hiện đại Sự phát triển của KHCN đã tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực trong cuộc sống. Trong sản xuất kinh doanh, sự phát triển của KHCN góp phần tạo ra nhiều trang thiết bị, máy móc mới ưu việt hơn góp phần tăng năng suất lao động, rút ngắn thời gian tồn tại của một mặt hàng. Các DNV&N nhờ quy mô nhỏ gọn vốn đầu tư ban không lớn như các doanh nghiệp lớn, vì vậy có lợi thế hơn so với các doanh nghiệp lớn trong việc đổi mới thiết bị, công nghệ.
Tuy nhiên trên thực 7 tế tại hầu hết các DNV&N Việt Nam trang thiết bị,công nghệ vẫn còn lạc hậu so với các nước trên khu vực. Do vậy sản phẩm làm ra có sức cạnh tranh kém so với sản phẩm cùng loại của các quốc gia khác trong khu vực cũng như trên thế giới. Tình trạng máy móc thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu sẽ vừa gây lãng phí trong sử dụng năng lượng, nguyên vật liệu, ô nhiễm môi trường mà hiệu quả sản xuất lại không cao.4 Trình độ quản lý và nguồn lao động trong các DNV&N cũng hạn chế Ở Việt Nam khoảng 75% nguời lao động chưa học hết phổ thông và 30% chủ doanh nghiệp chưa qua lớp đào tạo nào. Năng lực và hiệu qủa quản lý doanh nghiệp nói chung thấp.
Không ít doanh nghiệp chưa xây dựng nội quy, chưa thực hiện đầy đủ và nghiêm túc quyền dân chủ của cổ đông của người góp vốn, thiếu tôn trọng vai trò của hội đồng quản trị…Nhiều nhà quản lý doanh nghiệp chưa được đào tạo, thiếu những kiến thức cần thuết để quản lý doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập quốc tế. Tỷ lệ lao động được đào tạo còn thấp, lao động có trình độ cao còn quá ít so với nhu cầu đang tăng nhanh. Lao động chưa qua đào tạo, hoặc được đào tạo ở trình độ thấp chiếm phần lớn và hầu hết đều chưa có tác phong công nghiệp. Các doanh nghiệp vì thế luôn phải tốn một chi phí không nhỏ để đào tạo lại lao động.
Biểu 2: Trình độ quản lý tại DNV&N Việt Nam Đơn vị: tỷ lệ % TT Các chỉ tiêu điều tra Tỷ lệ 1 Quản lý bằng kinh nghiệm 69.5 2 Không biết về luật Công ty, luật DNTN 13.9 3 Không biết về luật thuế 11.1 4 Không biết về hợp đồng lao động 19.4 5 Không biết về luật lao động 16.4 6 Không biết về luật môi trường 50. Trình độ quản lý và nguồn lao động trong các DNV&N còn hạn chế Việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của các DNV&N thường gặp không ít khó khăn xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ yếu là quyền sở hữu công nghiệp chưa được thực hiện nghiêm túc, sản phẩm dịch vụ của các doanh nghiệp luôn bị đe doạ do việc xuất hiện các mặt hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu với giá rẻ hơn. Cùng với sự độc quyền của một số doanh nghiệp lớn khiến sức cạnh tranh của DNV&N lại càng nhỏ trên thị trường nội địa. Đây chính là do sự yếu kém của công tác tổ chức quản lý thị trường.2 Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế Xét về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nước tư bản có nền đại công nghiệp phát triển gắn liền với những công ty, tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay thì khởi nghiệp của họ cũng là những xí nghiệp, những công trường thủ công đi từ sản xuất nhỏ.