CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ NGÂN HÀNG YỂU KÉM 1. Hệ thống ngân hàng và vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế Ngân hàng là một trong nhừng trụ cột quan trọng nhất của bất kỳ nền kinh tế nào. Hệ thông này bao gồm các tô chức tài chỉnh như các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách và các tô chức tin dụng khác. Các ngân hàng thương mại, với vai trò là trung gian tài chỉnh, là thành phần chủ chốt trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính như cho vay, gửi tiết kiệm, thanh toán và quàn lỷ tài sán.
Sự thất bại cúa một ngân hàng cỏ thế gây ra tác động lớn hơn đáng kê so với các công ly khác vi nó có thê ảnh hưởng lan rộng đến người gứi tiền, các tô chức tài chỉnh khác và loàn bộ thị trường. Khi một ngân hàng thất bại, tiền gửi cua khách hàng cỏ thê bị đóng băng, các mối quan hệ cho vay bị gián đoạn và hạn mức tín dụng dùng đê thanh toán đối tác hay nhà cung cấp không được gia hạn, dần đen các vấn đề nghiêm trọng trong hệ thông tài chính. Thậm chí, một ngân hàng that bại cỏ thê gây ra hiệu ứng lây lan, khiên các ngân hàng khác, dù vân ôn định vê tài chính, cũng gặp rủi ro do lo sợ của người gửi tiền sợ mất tiền gửi tiết kiệm. Hiệu ứng lây lan này hoặc các tác động tiêu cực lan tỏa có thế gia tăng trong toàn hệ thống ngân hàng và tài chỉnh, làm tăng tác động kinh tế tổng thê cùa các vụ sụp đổ ngân hàng như vậy và được gọi là tính liên kết của ngân hàng theo Roncoroni et al.
Ngân hàng đóng một vai trò then chốt trong việc phân bỏ vốn hiệu quả trong nền kinh tể, là trung gian tài chính thu hút tiền gửi từ người tiết kiệm và cho vay đến người vay, Adrian and Shin (2010). Ngân hàng có đội ngũ chuyên môn và có năng lực, có thể đánh giá được mức độ tin nhiệm khách hàng và cho vay đổi với những người có khá năng sứ dụng vốn vay hiộu quá. Điều này giúp phân bô vốn hiệu quá và thúc đấy tăng trường kinh tế. Đe hiểu rõ hơn về vai trò này, việc xem xét các chức năng cụ thể mà ngân hàng thực hiện là vô cùng cần thiết.
Dựa trên các nghiên cứu 5 ngân hàng mới nhất, Nordine Abidi et al (2024) phân loại các chức năng này thành năm nhóm chính. Các chức năng này không chỉ phản ánh vai trò truyền thống của ngân hàng mà còn cho thấy sự thích nghi và phát triẻn cùa ngân hàng trong môi trường tải chính ngày càng phức tạp. Cung cấp thanh khoản và tạo điều kiện thanh toán: Ngân hàng cung cấp thanh khoán cho nồn kinh tế bằng cách nhận tiền gửi và cho vay. Đồng thời cũng tạo điều kiện cho các khoan thanh toán bằng cách vận hành các hệ thống bù trừ và thanh toán.
Chuyên đói tài sàn: Việc chuyên đôi các tài sàn kém thanh khoản (ví dụ: các khoản vay) thành các tài sản thanh khoán hoii (ví dụ: tiền gửi thanh toán) là hoạt động cốt lõi của ngân hàng. Chức năng này cho phép các doanh nghiệp và hộ gia đình tiếp cận thị trường tín dụng ngay cà khi họ không có sằn thanh khoản đê làm điều đó. Quàn lý rủi ro: Đa dạng hóa danh mục đầu tư, dành riêng vốn và sừ dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro là các cách mà ngân hàng quán lý rủi ro. Việc quản lý rủi ro do đó giúp ngân hàng báo vệ người gửi tiền và nhà đầu tư khói các khoản lồ.
Xứ lý thong tin và giánĩ sát người vay: Các ngân hàng thu thập và xử lý thông tin vê người vay, cho phép họ đánh giá rúi ro cho vay. Việc giám sát các hoạt động cùa người vay và đàm bảo rằng họ sử dụng vốn đúng mục đích cũng là một phần trong công việc cùa ngân hàng. Truyền dân chính sách tiền tệ: Các ngân hàng thương mại đỏng vai trò quan trọng trong việc thực thi hiộu quả chỉnh sách liền tộ, đây là công cụ then chổi mà ngân hàng trung ương sử dụng đô thúc đây ôn định tài chính, tăng trưởng kinh te bền vững, và kiêm soát lạm phát ờ mức thấp. Tóm lại, hệ thống ngân hàng không chi là một phần không thể thiếu cua nền kinh tế mà còn đóng vai trò trung tâm trong việc thúc đây sự phát triên kinh tế, duy tri ôn định tài chính và hồ trợ thực thi chỉnh sách công.
Tuy nhiên, khi các ngân hàng gặp khó khăn hoặc yếu kém, điêu này có thê dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh te, nhẩn mạnh lầm quan trọng của việc quán lý và xừ lý kịp thời các rủi ro trong hệ thông ngân hàng. Các khái niệm liên quan đến ngân hàng yếu kém 1. Định nghĩa và dấu hiệu của ngân hàng yếu kém Ngân hàng yếu kém có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo tài liệu của Ngân hàng Thanh toán Quốc Te, B1S (2015) ban hành với tựa đe ‘'Hướng dân xấc định và xừ lý các ngán hàng yếu kém ”, một ngân hàng yêu kém là ngân hàng có khá năng thanh khoản hoặc khả năng thanh toán bị suy giám hoặc SC sớm bị suy giảm trừ khi có sự cai thiện đáng kê về nguồn tài chính, hồ sơ rủi ro, mô hỉnh kinh doanh, hộ thống và kiêm soát quán lý rủi ro và/hoặc chất lượng quản trị và quán lý một cách kịp thời.
Định nghía này tập trung vào một ngân hàng đang đổi mặt với các mối đe dọa tiềm tàng hoặc tức thi đối với khã năng thanh khoán và khá năng thanh toán cùa minh, thay vỉ một ngân hàng có nhừng yếu kém có thê quan sát được mà chi là tạm thời hoặc cô lập và không đe dọa đến khá năng tồn tại cua nó. Mặc dù tất cả các yếu kém, dù ờ mức độ và tính chât nào, đêu cần được ngân hàng khăc phục, nhưng các vân đề cùa một ngân hàng yếu kém, như được định nghĩa ớ trên mang tính cơ ban hơn. Chúng bao gồm, nhưng không giới hạn ờ: quàn trị hoặc quản lý kém; thiếu vốn và kém thanh khoản; một mô hỉnh hoặc chiến lược kinh doanh không khá thi; chất lượng tài sản yếu kém; và hệ thống và kiểm soát kém. Vỉ các ngân hàng không trờ nen yếu kém chi sau một đêm, những vấn đề dường như xuất hiện nhanh chóng thường là dấu hiệu cúa những yếu kém về tài chính hoặc quán trị đã được cho phép tồn tại trong một thời gian dài.
Những vấn đề này có thể nhanh chóng trờ thành mổi quan tâm lớn đổi với cơ quan giám sát nếu các yêu cầu thận trọng tôi thiêu không được đáp ứng và khá năng tồn tại cúa ngân hàng bị đe dọa. Nhiệm vụ của cơ quan giám sát là xác định sớm những vấn đề này, đảm bảo răng các biện pháp phòng ngừa hoặc khắc phục được áp dụng và phổi hợp với cơ quan giải quyết đê đảm báo rằng các kế hoạch khắc phục và giải quyết đã được thống nhất được thực hiện trong trường hợp hành động phòng ngừa thất bại. Chiến lược giãi quyết sẽ cần phải tính đến tầm quan trọng hệ thống của ngân hàng. Nguyên nhân dẫn đến ngân hàng yếu kém Dù lĩnh vực tài chính đà chứng kiến nhiều đôi mới, tín dụng vẫn luôn là hoạt động cốt lõi, chiếm ty trọng lớn trong hoạt động cua các ngân hàng.
Nhưng khó khăn mà ngân hàng phái đối mặt có thế xuất phát từ nhiều yếu tố, nhưng phần lớn đều liên quan đên tín dụng. Khi các khoản thanh toán bị chậm trề hoặc không được thực hiện, điều này cỏ thế gây ra vấn de VC dỏng tiền và làm suy giám tính thanh khoán cùa ngân hàng. Do đó, yêu cầu về vổn mạnh là điều kiện cần thiết nhưng chưa đủ để đám báo sự ôn định của hệ thống ngân hàng; một nền tảng thanh khoán vừng chắc, được cúng cố thông qua các tiêu chu ân giám sát nghiêm ngặt cũng có vai trò quan trọng tưong đưong. Ví dụ, trong giai đoạn đâu cúa cuộc khủng hoảng tài chính bat đầu vào năm 2007, dù nhiều ngân hàng có mức vổn đầy đủ nhưng vần gặp khó khăn vì không quản lý thanh khoán một cách thận trọng.
Cuộc khủng hoàng này đã nhấn mạnh tầm quan trọng của thanh khoản đổi với sự vận hành ổn định của các thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng. Trước khủng hoảng, thị trường tài sản hoạt động sôi động và vốn được huy động dề dàng với chi phí thấp. Tuy nhiên, sự đao chiều nhanh chóng của các điều kiện thị trường đà cho thấy thanh khoán có thế nhanh chóng cạn kiệt và tỉnh trạng thiếu thanh khoán có thể kéo dài trong một thời gian dài. Ngoài rủi ro tín dụng và thanh khoán, điếm yếu của một ngân hàng có thể bắt nguồn từ rùi ro thị trường, rủi ro hoạt động, rủi ro lài suất hoặc rũi ro chiến lưọc.
Mặc dù những rủi ro này không phái là mới và trong lịch sứ, chủng thường được xem là ít quan trọng hơn so với rủi ro tín dụng trong việc gây ra các vụ phá sán ngân hàng, nhưng hiện tại, chúng đang ngày càng trờ nôn đáng chủ ỷ hơn. Vi dụ, rủi ro hoạt động đang trờ nên ngày càng quan trọng trong bổi cánh công nghộ phát tricn và các hộ thông ngân hàng ngày càng phửc tạp. Nhừng sự cỏ vê hệ thông, gian lận, hoặc sai sót trong quy trình có thế gây ra thiệt hại lớn cho ngân hàng, cả về mặt tài chính và uy tín. Hay đổi với rủi ro thị trường, mặc dù không phái lúc nào cũng gảy ra rủi ro trực tiếp, nhưng trong môi trường biến động mạnh và khó lường như hiện nay, rủi ro thị trường có thê trờ thành yếu lố quan trọng.
Các biến động trong lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cả tài sản, có thê ảnh hương đến giá trị tài sản và thu nhập của ngân hàng. 8 Thông thường, việc tiếp xúc quá mức với rúi ro, tôn thất tín dụng, vấn đê thanh khoán và thiếu hụt vốn đều bắt nguồn từ những điểm yếu trong quán trị doanh nghiệp chăng hạn như sự quàn lý rủi ro kém của hội đông quản trị, thiếu một khung chấp nhận rủi ro hiệu quả, tham vọng không được kiêm soát của ban giám đỏc. Vi dụ, các chính sách tập trung vào lợi nhuận ngắn hạn mà không điều chỉnh theo mức độ rủi ro và hệ thông kiêm soát nội bộ chưa hoàn thiện. Đặc biệt, các quy trình này thường không đủ mạnh để ngăn chặn những rủi ro tiềm ẩn.