CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NỢ XẤU VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm nợ xấu Quan niệm về nợ xấu của Quỹ tiền tệ quốc tế ([19], tr8, Eighteenth Meeting of the IMF Committee on Balance of Payments Statistics): “Nợ xấu là những khoản nợ có lãi hoặc /và gốc quá hạn 90 ngày hoặc trên 90 ngày, các khoản lãi quá hạn 90 ngày hoặc trên 90 ngày được tái cơ cấu hoặc gia hạn nợ theo thỏa thuận, hoặc quá hạn dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân khác cho thấy người vay không có khả năng thực hiện đầy đủ về gốc và lãi”. “Theo Uỷ ban Basel về Giám sát ngân hàng, tổ chức này không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc các khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện xảy ra: Một là, ngân hàng nhận thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để gắng thu hồi, hai là người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày.” (Theo Trần Huy Hoàng, 2020, [9]) Tại Việt Nam, khái niệm nợ xấu được đề cập trong Thông tư số 02/2013/ TT- NHNN của NHNN Việt Nam, cụ thể: “Nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3,4 và 5. Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; (ii) Nợ gia hạn lần đầu; (iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; 13 (iv) Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; - Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín nhận nhận vốn góp; - Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; - Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật; - Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật; - Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; - Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
(v) Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra; (vi) Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: 14 (i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; (iv) Khoản nợ quy định tại điểm c khoản 1 điều này quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; (v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; (vi) Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 điều này.2 Tác động tiêu cực của nợ xấu Đối với nền kinh tế Ngân hàng là trung gian tài chính-huy động vốn từ các chủ thể có vốn tạm thời nhàn rỗi và cung cấp cho những doanh nghiệp, cá nhân cần vốn. Do đó, khi các định chế tài chính trung gian phát sinh các khoản nợ xấu thì không chỉ sẽ tác động đến thu nhập của bản thân đơn vị đó mà còn tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế. Cụ thể là, nợ xấu sẽ tác động một cách gián tiếp đến nền kinh tế thông qua mối quan hệ giữa các bên bao gồm ngân hàng, các khách hàng và nền kinh tế.
Lúc này, một khi nợ xấu phát sinh tại ngân hàng thì năng lực tài chính của đơn vị này sẽ bị ảnh hưởng theo, từ đó kéo theo nhiều hệ lụy tiêu cực trong chính nội bộ ngân hàng và các hệ lụy nghiêm trọng khác như nợ xấu phát sinh do các đối tượng vay bao gồm cá nhân và các doanh nghiệp mà những đối tượng trên khi hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả hoặc kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ cả nền kinh tế bao gồm các tác động về thu nhập, việc làm của người lao động, trật tự xã hội, sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế nói chung. Đối với NHTM Điều đầu tiên khi một ngân hàng phát sinh nợ xấu chính là sự tổn thất về thu nhập của ngân hàng khi mà một đối tượng vay hay nhiều đối tượng vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đáo hạn. Hiện nay, thu nhập của hầu hết các ngân hàng phần lớn là đến từ hoạt động cho vay. Trong trường hợp các định chế tài chính trung gian có nợ xấu đồng nghĩa với việc đơn vị này sẽ không thu được lãi đầy đủ, mặt khác các ngân hàng phải mất khá nhiều thời gian, tài lực, nhân lực để nhân viên ngân hàng tiếp cận khách hàng thuyết phục trả nợ, thực hiện dự phòng rủi ro, đi kèm với các chi phí khác nhằm phục vụ cho việc triệt để thu hồi nợ xấu.
Như vậy, nếu chất lượng các khoản vay không tốt gia tăng, đồng nghĩa với các khoản dự phòng rủi ro cho vay 16 tăng lên, kéo theo các khoản nợ xấu có thể tiếp tục gia tăng và cuối cùng dẫn đến sự sa sút về lợi nhuận của ngân hàng. Mặt khác, khi nợ xấu tăng cao vượt mức quy định sẽ ảnh hưởng đến tính thanh khoản và ít nhiều ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệu của ngân hàng đối với các khách hàng có nhu cầu vay trên thị trường, niềm tin của các nhà đầu tư, kéo theo năng lực cạnh tranh suy giảm, các hoạt động đầu tư chịu thiệt hại nghiêm trọng. Qua đó có thể nhận định rằng nợ xấu trong hoạt động cho vay có tác động tiêu cực không những đến khả năng sinh lời mà thậm chí là sự tồn tại của chính các ngân hàng nếu như ngân hàng đó không có đủ tiềm lực về vốn để xử lý kịp thời và các chính sách quản lý rủi ro hiệu quả trong các tình huống xảy ra. Đối với doanh nghiệp Khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng và phát sinh các khoản nợ không thể thanh toán khi đáo hạn, doanh nghiệp lúc này rơi vào tình huống khó khăn khó tháo gỡ khi mà không có vốn để để tiếp tục tìm hướng sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, áp lực và gánh nặng trả nợ ngân hàng gia tăng, làm giảm tốc độ luân chuyển vốn do uy tín bị suy giảm khi đến hạn mà chưa trả được nợ và cũng gặp nhiều khó khăn khi đi vay các ngân hàng khác khi phát sinh nợ xấu trong lịch sử giao dịch. Rơi vào tình huống này sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho chính bản thân các doanh nghiệp và ảnh hưởng đến nền kinh tế nếu doanh nghiệp không có phương án trả nợ và dẫn đến làm ăn thua lỗ, phá sản doanh nghiệp.2 QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Quan niệm về quản lý nợ xấu Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2005, [18]) cho rằng:“QLNX là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển 17 bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh nợ xấu, đi kèm với các biện pháp xử lý những khoản nợ xấu đã phát sinh. Từ đó nhằm tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM”.2 Nội dung quản lý nợ xấu Nội dung của QLNX bao gồm một số nội dung cơ bản như sau: Xây dựng ban hành chính sách, chiến lược QLNX và quy trình QLNX: Về chính sách QLNX được hiểu là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách cho vay của ngân hàng liên quan đến chính sách khách hàng, giới hạn tín dụng, chính sách lãi suất, các quy định về phân loại các nhóm nợ… Theo đó, nếu ngân hàng xây dựng được các nguyên tắc và mục tiêu cho vay rõ ràng, thiết lập các lĩnh vực cho vay, xác định rõ các thẩm quyền phê duyệt cụ thể, đồng thời duy trì được chính sách cho vay này một cách hiệu quả sẽ giúp hạn chế rủi ro và duy trì khả năng sinh lời một cách bền vững đồng thời còn là căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm liên đới của các bên liên quan nếu các rủi ro, khiếu kiện xảy ra. Về chiến lược QLNX: Các ngân hàng nên xây dựng, duy trì và không ngừng hoàn thiện các chiến lược này tương ứng theo từng giai đoạn cụ thể, từ đó ngày càng hoàn thiện công tác quản lý, đảm bảo hoạt động quản lý rủi ro trong công tác cho vay của ngân hàng liên tục được chú trọng và tăng cường, qua đấy hạn chế được sự xuất hiện và gia tăng của các nhóm nợ xấu cũng như hạn chế các mối đe dọa, tạo điều kiện cho ngân hàng hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả.